Friday, 31 July 2009

Liên minh Microsoft-Yahoo có "quật ngã" Google?

Thứ Sáu, 31/07/2009, 17:41

Liên minh Microsoft-Yahoo có "quật ngã" Google?

TTO - Nếu các nhà làm luật chống độc quyền ủng hộ, thương vụ đình đám giữa Microsoft và Yahoo sẽ khiến cuộc đua tìm kiếm trực tuyến trở nên gay gắt hơn. Tuy nhiên, vẫn chưa thể khẳng định liệu Microsoft -Yahoo có thể quật ngã được Google, “ông vua” hiện nay của mạng Internet.

>> Yahoo mất trắng 2,9 tỉ USD vào tay Microsoft
>> Hợp tác với Yahoo: Microsoft "được" nhiều hơn?

Giới phân tích cho rằng, chẳng lí gì Google phải “lăn tăn” trước liên minh mới Microsoft-Yahoo.

Về cơ bản, coi như Microsoft đã đạt được tham vọng bấy lâu. “Xe duyên” với Yahoo sau một chặng đường dài rình rập, gã khổng lồ phần mềm sẽ nghiễm nhiên nắm giữ vị trí thứ hai trên thị trường tìm kiếm trực tuyến (và tất yếu là lợi nhuận quảng cáo) đầy béo bở. Nếu không có trục trặc gì với các nhà làm luật chống độc quyền, thương vụ sẽ giúp Microsoft mở ra một chương mới trong lịch sử của hãng, khi 30% thị phần sẽ là một con số không nhỏ nếu so với thảm cảnh trước đây, vốn vẫn luôn bị Google “sỏ mũi”.

Hoàn toàn có thể hiểu được tâm trạng phấn khởi trong giới lãnh đạo Microsoft. Bing, công cụ tìm kiếm mới ra mắt 2 tháng trước của Microsoft bắt đầu có những dấu hiệu lạc quan về thị phần. Khi Yahoo “trao thân”, Microsoft sẽ có thêm nhiều lựa chọn để cải tiến công nghệ.

Khách hàng đông hơn, thêm cơ hội cho Microsoft

Một trong những món hời béo bở dễ thấy khi bộ phận tìm kiếm của Yahoo và Microsoft hợp nhất đó là: lượng truy vấn web cũng đồng nghĩa với lượng quảng cáo đi cùng, và đó là miếng mồi Microsoft có thể kiếm bộn tiền. Mặc dù công nghệ adCenter của hãng vẫn tỏ ra khá hiệu quả, nhưng nhiều nhà quảng cáo cảm thấy adCenter còn tương đối phiền phức khi sử dụng, đó cũng là một phần khiến cho giới PR dành con mắt thiện cảm hơn cho hệ thống quản lí chi phí quảng cáo của Google.

Mặc dù vậy, sau thời điểm 29-07, tất cả các khách hàng cũ của Yahoo sẽ chuyển sang sử dụng adCenter, đồng nghĩa cơ hội để họ tiếp cận với khách hàng, người dùng cũng nhiều hơn. Ít nhiều, đây là một tín hiệu tương đối lạc quan. Có vẻ như các nhà quảng cáo đang muốn dành cho Microsoft một cơ hội, do đã quá ngán ngẩm với vị thế thống trị của Google, khi gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm thiếu các giải pháp mới và chi phí dịch vụ vẫn còn khá đắt đỏ.

Trong khi đó, CEO của Microsoft Steve Ballmer tỏ ra rất ngạc nhiên trước phản ứng của phố Wall, khi giới đầu tư hồ nghi với quyết định “bán mình” của Yahoo.

Phát biểu trước các nhà phân tích tài chính tại cuộc họp thường niên của Microsoft, Ballmer giải thích lí do vì sao thương vụ sẽ có lợi cho cả hai, thậm chí nó có thể mau chóng “chữa cháy” cho tình trạng cổ phiếu của Yahoo rớt thê thảm. Trong khi giá trị của Microsoft tăng lên đáng kể thì Yahoo thả rốc không phanh. Giá trị cổ phiếu chỉ còn lại khoảng 14,28, giảm 16% (hôm thứ Năm), bằng một nửa mức đề xuất mua lại của Microsoft.

Ballmer thừa nhận, cuộc thương thảo diễn ra thuận lợi, nhưng việc Yahoo không nhận được ngay lập tức bất kì đồng xu nào đã khiến giới đầu tư và các nhà phân tích sốc. Ballmer miêu tả đầy trừu tượng “Chuyện gì đã xảy ra ư? Không có gì cả, chẳng có ai bán, cũng chẳng có ai mua ở đây cả”.

Ballmer khẳng định, doanh thu tăng sẽ là kết quả tất yếu sau khi hai hãng mang đến thị trường những sản phẩm cải tiến và nhất là cả hai nền tảng tìm kiếm và quảng cáo trực tuyến đã được hợp nhất.

Ballmer thừa nhận "cuộc thương thảo diễn ra thuận lợi, nhưng việc Yahoo không nhận được ngay lập tức bất kì đồng xu nào" đã khiến giới đầu tư và các nhà phân tích sốc.

Yahoo “méo mặt”

Bất kể giới lãnh đạo Microsoft và Yahoo mừng ra mặt, giới phân tích vẫn đặt những câu hỏi và dự đoán khá bất ngờ. Điểm đáng chú ý đầu tiên dễ nhận thấy là Yahoo đã phải chấp nhận “nhường nhịn” đáng kể, khi không thể thu về bất kì khoản tiền trả trước nào như hi vọng.

Theo giới quan sát, rõ ràng Microsoft là kẻ “đắc lợi” nhất sau khi giao kèo với Yahoo được kí kết vì hiện nay, thực tế Bing (hay Live trước đây) vẫn hoàn toàn không có “máu mặt” trên thị trường tìm kiếm. Không phải trả một khoản kha khá cho Yahoo cũng là điều khoản thắng lợi mà Microsoft đã giành được trước “cơn khát” Yahoo.

Google “ngư ông đắc lợi”?

Đáng lưu ý là với Google, các nhà phân tích dự đoán, gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm và quảng cáo trực tuyến cũng chẳng lấy gì phải lo lắng khi ít ra, trong một vài tháng trước mắt, Google sẽ trở thành “ngư ông đắc lợi” vì Microsoft và Yahoo sẽ phải bận bịu chiến đấu với các nhà làm luật, quá trình chuyển đổi, tích hợp công nghệ... cũng không hề đơn giản. Vị thế của Google là không phải bàn cãi, khó hãng nào có thể theo kịp trong một sớm một chiều.

Về mặt lí thuyết, sự kết hợp giữa Microsoft và Yahoo rõ ràng một chiến lược khôn ngoan của 2 gã khổng lồ. Cả hai đều không thể đơn thương độc mã cạnh tranh với Google và xu hướng thất thế ngày càng rõ ràng hơn nếu như thương vụ không diễn ra. Cả Microsoft và Yahoo sẽ được nhiều hơn mất khi hợp tác cùng nhau. Ít nhất Yahoo cũng có thể tiết kiệm được khá nhiều chi phí còn Microsoft bỗng dưng trở thành “đại gia” thực sự trên thị trường tìm kiếm.

Businessinsider dự đoán, rất có thể cuối con đường, cả hai sẽ cùng “vỡ mộng” vì đổ bể. Lí do đơn giản là một khi Yahoo bán “mặt bằng” cho Microsoft, việc chia sẻ trách nhiệm quản lí sẽ gây nên khá nhiều vấn đề rắc rối.

Chẳng hạn, khi khách hàng nào đó của Yahoo không hài lòng với công nghệ, liệu hãng có gửi than phiền tới các kĩ sư Microsoft hay không? Khi Microsoft không hài lòng với cách thức Yahoo bán quảng cáo, liệu các kĩ sư của Microsoft có than phiền trở lại? Khi kết quả làm ăn bết bát, các nhà đầu tư biết tìm Microsoft hay Yahoo để thở than? Có thể việc điều hành thương vụ sẽ là một cơn “ác mộng” với Microsoft và Yahoo.

NHẬT VƯƠNG (Tổng hợp)

SOURCE

http://nhipsongso.tuoitre.com.vn/Index.aspx?ArticleID=329400&ChannelID=16

Thursday, 30 July 2009

Cái kết cho công cụ tìm kiếm Yahoo Search

Cái kết cho công cụ tìm kiếm Yahoo Search

Ảnh: CNet.
Ảnh: CNet.

Bản thỏa thuận ngày 29/7 giữa Microsoft và Yahoo đã đánh dấu sự kết thúc của cỗ máy tìm kiếm huy hoàng một thời trên Internet bởi từ năm sau, khi tra cứu trên Yahoo, kết quả người sử dụng nhận được là do MS Bing cung cấp.

Sau hơn một năm đàm phán, hai công ty Mỹ cũng thống nhất rằng Microsoft sẽ độc quyền khai thác công nghệ tìm kiếm nền tảng của Yahoo cũng như tích hợp vào trong dịch vụ của họ. Trong khi đó, công cụ search của Yahoo sẽ chuyển sang dùng thuật toán của Bing.

Còn Yahoo sẽ cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến cho cả hai bên, tuy nhiên họ phải sử dụng nền tảng chung để bán quảng cáo là AdCenter của Microsoft.

Bản hợp đồng kéo dài 10 năm và bắt đầu có hiệu lực từ năm tới này được ký chỉ 2 tháng sau khi Microsoft cải tổ, đổi tên công cụ tra cứu Live Search thành Bing và nhận được nhiều đánh giá tích cực của người dùng.

*Video hài thể hiện thách thức lớn của Bing

*Những nét hay trên Microsoft Bing

*Live Search khoác 'áo' mới để trở thành Microsoft Bing

*Microsoft 'vung tiền' làm quảng cáo chống lại Google

Yahoo kỳ vọng thỏa thuận với tập đoàn phần mềm Mỹ sẽ giúp họ tăng lợi nhuận hàng năm lên khoảng 500 triệu USD và tiết kiệm 200 triệu USD chi phí đầu tư. Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa Yahoo sẽ phải cắt giảm một phần nhân lực.

Dù là một trong những thương hiệu đầu tiên và nổi tiếng nhất trên Internet, việc để Microsoft tiếp quản công cụ tìm kiếm cho thấy Yahoo không thể tiếp tục chạy đua với Google và Microsoft trong lĩnh vực này.

Google vẫn thống trị thị trường tìm kiếm và đạt doanh thu 5,5 tỷ USD chỉ trong 3 tháng qua. Về phía Microsoft, hợp tác với Yahoo sẽ tạo điều kiện cho họ tăng sức mạnh của công cụ tra cứu và tận dụng mạng lưới các nhà quảng cáo khổng lồ của đối tác.

Yahoo Search 15 năm qua:

Yahoo.com năm 1996.
Yahoo.com năm 2001.
Yahoo Directory năm 2004.
Yahoo hiện nay.

Lê Nguyên (Ảnh: PC World)

source

http://vnexpress.net/GL/Vi-tinh/2009/07/3BA11D04/

Wednesday, 29 July 2009

Dầu giảm giá mạnh nhất trong 3 tháng qua

Dầu giảm giá mạnh nhất trong 3 tháng qua

Cập nhật lúc 06:29, Thứ Năm, 30/07/2009 (GMT+7)
,

Giá dầu thô trên thị trường châu Á sáng nay (30/7) tiếp tục xuống dốc sau khi bất ngờ tụt giảm ở mức mạnh nhất trong 3 tháng qua trên sàn New York.

1
Giá dầu có thể thử ngưỡng 60 USD/thùng trong tuần này. (Ảnh: BLB)

Giá dầu thô giao tháng 9 tính tới 6h sáng 30/7 (giờ Việt Nam) giảm 52 cents (-0,82%) xuống 62,83 USD/thùng.

Trước đó vài giờ, giá dầu giao tháng 9 đóng cửa phiên giao dịch ngày 30/7 trên sàn Hàng hoá New York bất ngờ giảm 3,88 USD (-5,8%) xuống 63,35 USD/thùng - mức thấp nhất kể từ 16/7. Đây là phiên giao dịch giảm mạnh nhất kể từ 20/4.

Tính từ đầu năm tới nay, giá dầu tăng 42% nhưng giảm 57% so với mức cao kỷ lục 147,27 USD/thùng vào 11/7/2008.

Giá dầu giảm mạnh như vậy là do báo cáo của chính phủ Mỹ cho thấy dữ trữ dầu bất ngờ tăng mạnh do nhập khẩu tăng cao trong khi tỷ công suất hoạt động của các nhà máy lọc dầu giảm.

Số liệu cho thấy, dự trữ dầu của Mỹ trong tuần tính tới hết 24/7 tăng mạnh 5,15 triệu thùng lên 347,8 triệu thùng. Đây là tuần có dự trữ dầu tăng mạnh nhất kể từ tháng 4.

Trước đó, dự trữ dầu được dự báo chỉ tăng 1,5 triệu thùng.

“Chúng ta đang có nhiều dầu hơn số lượng sẽ sử dụng bất kể thời điểm nào trong thời gian trước mặt. Nhu cầu tiêu thụ dầu không đủ lớn để khiến phải dự trữ dầu vào diện kiểm soát và yếu tố này đang tác động lên diễn biến giá trên thị trường”, ông Phil Flynn, phó chủ tịch bộ phận nghiên cứu tại PFGBest - một công ty môi giới có trụ sở tại Chicago cho biết.

“Cung dầu quá lớn. Thị trường có thể sẽ thử ngưỡng 60 USD/thùng trong tuần này”, ông Michael Lynch - chủ tịch Bộ phận nghiên cứu Kinh tế và chiến lược dầu, tại Winchester, Massachusetts nói.

Không những thế, theo ông Francisco Blanch - trưởng bộ phận nghiên cứu hàng hoá toàn cầu của Ngân hàng Bank of America-Merrill Lynch, chi nhánh London cho biết, có một lượng lớn dầu đang chuẩn bị được đưa vào kho dự trữ. “Cung đang vượt cầu trong thời điểm hiện tại. Và nó cho bạn biết rằng có thể sẽ có một đợt giảm giá của của đồng USD theo đà giảm giá của dầu”.

  • Hà Linh (Theo Bloomberg, Oil)
  • source
  • http://vietnamnet.vn/kinhte/thegioi/2009/07/860806/

Kinh tế nước Mỹ giữa năm 2009

Kinh tế nước Mỹ giữa năm 2009


Duy Anh

Nhận định về tình hình kinh tế nước Mỹ giữa năm 2009

Báo cáo của chủ tịch Bernanke

Trong hai ngày 21 và 22 tháng 7 năm 2009, trong khuôn khổ tường trình bán thường niên trước Ủy Ban Nhà & Dịch Vụ Tài Chánh (House Financial Services) của Thượng Viện Hoa Kỳ, chủ tịch Dự Trữ Liên Bang cho biết là đã có những dấu hiệu khả quan rõ rệt trong sinh hoạt thị trường tài chánh và kinh tế của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nói chung nền kinh tế còn yếu và tỉ lệ thất nghiệp sẽ còn ở mức độ cao cho tới năm 2010.


Chủ tịch Bernanke sau đồng đô-la Mỹ
Nguồn: freakingnews.com

Ông Bernanke cho biết là chính sách hạ thấp lãi suất và những chương trình khác của Dự Trữ Liên Bang đã giúp cho thị trường tài chánh tạm ổn định, làm nền tảng cho kinh tế phát triển trở lại. Nỗi hoảng loạn trong mùa thu năm ngoái đã lắng dịu và những nhà đầu tư bắt đầu trở lại với thị trường tài chánh.

Tuy nhiên ông cho rằng sự hồi phục thực sự của kinh tế còn tùy thuộc vào sự cải thiện của thị trường lao động và mức tiêu thụ của người dân Mỹ. Theo ông, tỉ lệ thất nghiệp sẽ còn tăng cao cho đến cuối năm nay trước khi giảm dần trong những năm 2010 và 2011.

Trả lời những câu hỏi của Ủy Ban Thượng Viện, ông Bernanke né tránh câu hỏi liệu gói kích cầu 787 tỷ đô-la có hiệu quả hay không mà chỉ tường trình là cho tới nay, Dự Trữ Liên Bang mới chỉ sử dụng 25% ngân khoản này. Tuy nhiên ông cũng nhấn mạnh công tác giúp đỡ tài chánh cho các chính quyền tiểu bang và địa phương đã có kết quả tốt.

Về câu hỏi liên quan đến sự thâm thủng của ngân sách nhà nước, ông Bernanke trả lời là tình trạng này không thể kéo dài mãi được. Trả lời câu hỏi liệu hiện tượng lạm phát có khả năng hiện thực hay không sau chính sách buông lỏng tiền tệ thì ông Bernanke tin tưởng là nước Mỹ sẽ không bị lạm phát trong vòng hai năm tới đây. Tuy nhiên, khi cần thiết, Dự Trữ Liên Bang sẽ có biện pháp tăng lãi suất trở lại để ngăn ngừa lạm phát xảy ra.

Trong ngày thứ hai của buổi điều trần, ông Bernanke nghĩ rằng sự hồi phục kinh tế sẽ diễn ra chậm chạp, một phần do giới tiêu thụ Mỹ ngần ngại tiêu xài, vả lại tình hình nợ nần cao và giá nhà cửa bị hạ thấp đã làm mất đi một phần tài sản, giảm mức tiêu thụ của người dân một cách đáng kể. Một điều báo cáo bất ngờ của chủ tịch Bernanke là các viên chức chính phủ đang khuyến khích giới kinh doanh Mỹ nên tìm cách phát triển qua Á Châu, chẳng hạn như Trung Quốc, để thay thế sức cầu trong nước đã bị bão hòa.

Một số Thượng Nghị Sĩ lên tiếng chỉ trích Dự Trữ Liên Bang đã không chu toàn nhiệm vụ điều hòa hệ thống ngân hàng trong kỳ khủng hoảng tài chánh vừa qua và không loại trừ khả năng sẽ tiến hành thẩm tra (audit) hoạt động của Dự Trữ Liên Bang. Vào những thập niên 70 khi lạm phát ở mức độ cao làm kinh tế bị suy thoái, Quốc Hội đã từng yêu cầu Văn Phòng Kế Toán Chính Phủ GAO (Governmental accountability Office) thẩm tra bộ phận Dự Trữ Liên Bang mà chủ tịch lúc đó là Arthur Burns. Trả lời vấn đề này, ông Bernanke cho biết Dự Trữ Liên Bang sẽ vui vẻ cộng tác với Quốc Hội nhằm tường trình tiền thuế đã được sử dụng như thế nào nhưng ông sẽ chống lại các ý định xen vào nhiệm vụ thực hiện chính sách tiền tệ của bộ phận ông. Chủ tịch Bernanke còn yêu cầu Quốc Hội xem xét để ban hành thêm cho Dự Trữ Liên Bang trách nhiệm bảo vệ người tiêu thụ (consumer protection) ngoài hai nhiệm vụ chính hiện nay là ổn định giá cả (price stability) và tạo công ăn việc làm cho mọi người (full employment).
(Ý ông Bernanke ám chỉ thêm quyền hành cho Dự Trữ Liên Bang đchi phối các ngân hàng về lãi suất cho người vay tiền.)

Các nhận định

Điều khẳng định mà hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý là cơn khủng hoảng tài chánh của Hoa Kỳ và của toàn thế giới nói chung đã tạm lắng dịu và mọi người đã thấy ra ánh sáng ở cuối đường hầm. Công lớn đầu tiên phải nhắc đến là chính sách kinh tế của chính phủ Obama, phối hợp chặt chẽ với Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ và chính phủ các quốc gia tiên tiến khác trên thế giới, đề xuất và thực hiện tốt những biện pháp cứu vãn kịp thời. Nhiều người cho rằng đáng lẽ cơn khủng hoảng có thể tránh khỏi nếu Dự Trữ Liên Bang đã chu toàn nhiệm vụ giám sát kinh tế và hành động kịp thời hơn. Tuy nhiên thà muộn còn hơn không và nếu trong vòng một vài năm tới đây chính sách kinh tế này phát huy thành quả lớn, mang lại thịnh vượng cho nước Mỹ và toàn thế giới, có lẽ Tổng thống Obama sẽ đi vào lịch sử nhân loại là người đã “cứu” thế giới thoát một cơn đại khủng hoảng tầm cỡ cuộc Đại Khủng Hoảng 1929. Chính sách kinh tế theo trường phái tiền tệ mà cha đẻ là Milton Friedman sẽ lại một lần được khẳng định có một giá trị tối ưu không thể chối cãi được.

Ngoại trừ con số tỉ lệ thất nghiệp nằm ở mức cao, những chỉ số kinh tế khác đã có dấu hiệu khả quan nhất định. Giá nhà cửa đã nhỉnh lên 0,9% trong tháng 5 vừa qua. Một số công ty tiêu biểu (bellwhether) của Mỹ đã báo cáo những con số hoạt động khá sáng sủa. Đa số những cơ sở tài chánh lớn như Goldman Sachs, JP Morgan Chase, Bank of America, Citigroup đều báo cáo hoạt động có lãi trở lại. IBM, GE, Intel khai có lãi và đặc biệt cho biết là triển vọng sẽ tốt đẹp hơn trong những tháng sắp tới. Ngay cả GM, mới ra khỏi tình trạng phá sản gần đây cũng báo cáo doanh thu tăng 20% trong quý 2/2009 so với quý 1/2009. Chỉ số Dow Jones của thị trường chứng khoán đã hồi phục trở lại so với hồi đầu năm 2009 còn Nasdaq thì tăng đáng kể.

Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích cho rằng bức tranh toàn cảnh còn rất nhiều khó khăn vì nhiều lý do. Một số ngân hàng và cơ sở tài chánh lớn còn đang ôm những món nợ khổng lồ, chưa biết cách nào và bao giờ mới thanh khoản nổi. Ví dụ Morgan Stanley đã ngay thẳng báo cáo lỗ 1,26 tỷ đôla hoặc 1,10 đô-la/cỗ phiếu sau khi kết toán 0,74 cent vào khoản trả nợ một phần trong số nợ tiền TARP 10 tỷ đô-la của chính phủ và 1,32 đô-la vào những khoản lỗ tín dụng khác (MarketWatch, 2009). Theo luật kế toán hiện hành thì đáng lẽ Morgan Stanley không cần phải làm như vậy nhưng công ty này đã tự nguyện báo cáo những con số thật. Nếu tất cả các cơ sở tài chánh đều báo cáo như Morgan Stanley thì chắc chắn đều lỗ chỏng gọng cả.

Tỉ lệ thất nghiệp cao vẫn là một điểm nhức nhối cho nền kinh tế Mỹ. Theo báo cáo của chủ tịch Bernanke, sự hồi phục đặt nền tảng vào sức tiêu thụ của người dân, mà nếu không có công ăn việc làm thì người dân lấy đâu mà tiêu thụ? Có nhà phân tích cho rằng tỉ lệ thất nghiệp là một con số theo sau (lagging indicator) nên chưa nói lên toàn cảnh tình trạng thất nghiệp được. Hơn nữa phương pháp thống kê hiện nay về tỉ lệ thất nghiệp còn nhiều nhược điểm. Do đó người ta thường thấy một điều mâu thuẫn là khi kinh tế bắt đầu hồi phục thì tỉ lệ thất nghiệp lại có khuynh hướng tăng lên. Ví dụ: tổng số lực lượng lao động là 10 người, có 1 người đang ăn tiền thất nghiệp, như vậy tỉ lệ thất nghiệp được tính là 10%. Nay vì tình hình khả quan hơn, có thêm 1 người trước kia đã từ bỏ lực lượng lao động (không lãnh tiền thất nghiệp nữa và không đăng ký tìm việc làm) tham gia trở lại lực lượng lao động. Như vậy, số lao động là 11 người, có 2 người thất nghiệp, vị chi tỉ lệ thất nghiêp tăng lên thành 2/11 = 18%. Do đó, muốn có cái nhìn tổng quát thì cần phải để ý thêm về con số công việc được tạo ra, cũng như số con việc bị mất đi trong từng thời kỳ. Nếu tính theo cách này thì con số cuối cùng cũng không sáng sủa lắm vì theo thống kê của US Bureau of Labor Statistics, từ tháng 12/2008 cho tới nay, kinh tế Mỹ đã mất đi 6.5 triệu công ăn việc làm và coi như con số công việc được tạo ra trong 9 năm vừa qua đã bị tiêu mất.

Điểm an ủi duy nhất là con số công việc bị mất trong tháng 6 vừa qua đã giảm đi đáng kể (476.000) so với con số công nhân bị sa thải trong tháng 2/2009 là 741.000.

Cái giá phải trả để cứu nền kinh tế nước Mỹ đã quá cao đến một mức khó tưởng tượng nổi. Phương án Geithner với 3 chương trình bán đấu giá tài sản độc hại, tài trợ các quỹ công tư hợp đầu tư và Term Asset-Backed Securities Loan Facilities (TALF) đã và sẽ tiêu tốn hết 2 ngàn tỷ đô-la, cộng thêm 700 tỷ đô-la tiền TARP và 787 tỷ đô-la kích cầu chắc chắn sẽ đưa nước Mỹ vào một tương lai khá mờ mịt. Đó là chưa kể nhiều nhà kinh tế nghĩ rằng còn cần một đợt kích cầu thứ hai nữa mới thực sự vực nổi kinh tế trở lại. Nước Mỹ làm sao để trả nợ?


Sơ đồ tỉ lệ nợ quốc gia của Mỹ so với GDP.
Nguồn: Zfact.com
Tuy nhiên, nhiều người biện luận cho rằng điểm mạnh của nước Mỹ là nền kinh tế và đồng đô la vẫn có một giá trị hàng đầu, thuận lợi cho việc mua bán công khố phiếu để tác động vào lãi suất, một yếu tố quan trọng nhất trong việc hồi phục. Ngoài ra việc tung thêm tiền vào lưu lượng sẵn có chỉ thay thế số lượng tài sản đã mất đi, do đó không làm bóp méo các qui luật kinh tế thị trường theo trường phái tiền tệ. Nói như vậy chẳng hoá ra nước Mỹ có sẵn một máy in tiền khổng lồ trong nhà, cứ khi nào bị khủng hoảng thì cứ việc lấy ra in thêm mà tiêu xài phung phí? Điều kỳ lạ này đã từng xảy ra vào thập niên 1940 khi nước Mỹ tham gia Thế Chiến Thứ Hai dưới thời Tổng Thống Truman, tỉ lệ nợ quốc gia lên tới 120% so với GDP. Vậy mà cho đến năm 1980, nhờ những chính sách kinh tế thích hợp, tỉ lệ nợ quốc gia đã giảm xuống còn hơn 30%. Nay thì đang tăng dần lên và có khả năng đạt 100% GDP. Liệu lịch sử có lặp lại cho nước Mỹ hay không?


Thay lời kết


V kiểu Verizon>
Nguồn: gizmodo.com

Cho đến nay thì mọi người tiên đoán khả năng sáng sủa nhất cho kinh tế Mỹ là sẽ hồi phục theo dạng chữ V tương tự như logo của hãng Verizon chứ không thể nào như chữ V của chữ Victory nổi. Khả năng xấu nhất là hồi phục theo dạng chữ L. Chúng ta chờ đón xem sao vậy. Theo Paul Krugman trong lần viếng thăm Việt Nam mấy tháng trước đây thì chỉ trông mong vào New York và London hồi phục trước thì mới tới phiên Việt Nam được. Đành trông mong cho họ mạnh trở lại mau chóng một chút để đất nước được nhờ chứ cứ phải ôm chân người anh cả vĩ đại phương bắc bị nó hà hiếp nhục quá.


Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.

Tham khảo:

- MacDonald, E. (2009). Can Bernanke pull it off? FoxBusiness số ngày 22/07/2009. Truy cập ngày 22/07/2009 từ: http://emac.blogs.foxbusiness.com/2009/07/22/can-bernanke-pull-it-off/
- McMullen, A. (2009). U.S. loses equivalent of every job created in decade. Financial Post. Truy cập ngày 22/07/2009 tại: http://www.financialpost.com/story.html?id=1752178
- MarketWatch (2009). Morgan Stanley swings to loss after TARP payback. Truy cập ngày 22/07/2009 từ: http://www.marketwatch.com/story/mor...k-200972285500
- Randall, M.J. and Barkley, T. (2009). Bernanke says Recovery Depends on Jobs, Consumers. The Wall Street Journal số ngày 22/07/2009. Truy cập ngày 22/07/2009 từ: http://online.wsj.com/article/SB124826860751572047.html
- Sweet, K. (2009). Bernanke: Some Improvement in Economic Prospects. FoxBusiness số ngày 21/07/2009. Truy cậy ngày 22/07/2009 từ:
http://www.foxbusiness.com/story/markets/economy/bernanke-improvement-economic-prospects/
- ZFacts.com (2009). National Debt Graph: Bush goes for WWII Stimulus. Truy cập ngày 22/07/2009 từ: http://zfacts.com/p/318.html
source
DCVOnline

Monday, 27 July 2009

Doanh nghiệp lại khốn đốn vì “săn” USD

- Hơn 700 đồng/USD là số tiền chênh lệch giữa tỷ giá niêm yết của các ngân hàng so với giá trên thị trường tự do. Dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) luôn khẳng định không thiếu USD nhưng suốt ba tháng nay, tình hình căng thẳng ngoại tệ không những không giải quyết được mà còn trở nên khủng khiếp hơn sau những động thái “siết chặt quản lý” .

Muốn mua USD phải im lặng...

“Sau khi Thống đốc NHNN ra văn bản quản lý chặt chẽ thị trường ngoại hối và có những giải pháp tích cực thì tình hình ngày càng… tồi tệ hơn”.

Sự căng thẳng trên thị trường ngoại tệ liên lục diễn ra nhưng vẫn chưa được giải quyết. Ảnh: VNN.
Sự căng thẳng trên thị trường ngoại tệ liên lục diễn ra nhưng vẫn chưa được giải quyết. (Ảnh: Corbis)

Đó là phát biểu đầy “tâm trạng” của Chủ tịch HĐQT một doanh nghiệp chuyên nhập khẩu vật tư nông nghiệp về văn bản cấm ngân hàng thương mại thu phụ phí bán USD và xử lý một cửa hàng kinh doanh ngoại tệ tại phố Hà Trung thời gian qua của NHNN.

Mạnh miệng vậy nhưng khác với nhiều lần trước và khác với chính hình ảnh “không ngại nói thẳng” vốn có trên nhiều diễn đàn, lần trả lời này, vị doanh nhân trên nhất định “xin không nêu tên”. Đó cũng là yêu cầu mà phóng viên Vietnamnet nhận được khi phỏng vấn lãnh đạo nhiều doanh nghiệp khác.

“Giờ chúng tôi rất cần mua USD từ ngân hàng. Muốn mua được USD, doanh nghiệp nên im lặng. Nói ra sợ không còn cửa nữa”, một giám đốc đang muốn mua USD nhập khẩu nhựa giải thích.

Sự e dè này xuất phát từ câu chuyện nhiều doanh nghiệp “tố” phải “chung chi” phụ phí cho ngân hàng thương mại mới mua được USD khiến NHNN vào cuộc.

Tuy nhiên, việc NHNN đưa ra nhiều biện pháp “siết chặt quản lý” trong khi không cải thiện được nguồn cung USD càng làm tăng áp lực thiếu USD trên thị trường.

“NHNN siết chặt là đúng nhưng chỉ siết ngọn mà không nhổ tận gốc chỉ làm các doanh nghiệp nhập khẩu thêm khốn khó. Sau lệnh ngày 1/7, nhiều ngân hàng thương mại án binh bất động, không bán USD cho chúng tôi nữa”, kế toán trưởng một công ty thép cho biết.

Ông Tô Dũng, Giám đốc Công ty TNHH Xuân Cầu – doanh nghiệp kinh doanh xe máy Piaggio nhập khẩu - nhận xét: “Các chính sách về tỷ giá NHNN đưa ra không ăn nhập được với chuyển động thực tế của thị trường nên việc bí ngoại tệ mãi không giải quyết được. Trước, dù văn bản không cho phép nhưng vẫn tồn tại công khai tỷ giá trong và ngoài, giờ tuýt còi lại, doanh nghiệp không còn cửa nào để mua ngoại tệ nữa”.

Hết cửa xoay ngoại tệ nhập thép phế liệu về sản xuất, cực chẳng đã, Hiệp hội Thép, rồi lần lượt 7 doanh nghiệp thép, kể cả Tổng Công ty thép Việt Nam đã phải gửi công văn cầu cứu Chính phủ tuần trước.

Ông Nguyễn Văn Bình, Giám đốc Trung tâm Nhập khẩu Vật tư và Thiết bị Hà Nội cũng chia sẻ tình hình đã căng hơn từ đầu tháng 7 trở lại đây.

Dĩ nhiên, doanh nghiệp có thể cậy đến các “nhà băng” ở phố Hà Trung (Hà Nội), nơi “USD rất sẵn, muốn mua bao nhiêu cũng có”. Tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch quá lớn, thường quanh khoảng 700 đồng/USD đã khiến nhiều doanh nghiệp buộc phải quay lại với ngân hàng, chấp nhận “chung chi” thêm.

“Chợ đen ngân hàng dù sao vẫn đỡ hơn chợ đen ngoài thị trường, hơn nữa việc hợp thức hóa giấy tờ khoản chênh lệch dôi ra cũng thuận tiện hơn”, Trưởng phòng tài vụ của một doanh nghiệp chuyên nhập thiết bị y tế kết luận.

Anh còn hài hước ví rằng nếu muốn “săn” được USD, doanh nghiệp bây giờ cần phải biết “đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên” và không nên “than vãn trên báo chí”!.

Doanh nghiệp, ngân hàng cùng “nói dối”

Để “né” tình trạng căng thẳng ngoại tệ, nhiều tháng nay, Xuân Cầu đã gần như chuyển hẳn sang làm đại lý cho Piaggio Việt Nam, nhất là khi dòng xe này đã được lắp ráp nội địa.Nhưng rất ít doanh nghiệp nhập khẩu có thể may mắn chuyển hướng thuận lợi như thế.

Nhiều kiểu lách quy định đã được các ngân hàng và doanh nghiệp thực hiện bởi họ không thể thiếu ngoại tệ trong kinh doanh. Ảnh: VNN.
Nhiều kiểu lách quy định đã được các ngân hàng và doanh nghiệp thực hiện bởi họ không thể thiếu ngoại tệ trong kinh doanh. (Ảnh: Corbis)

Ông Nguyễn Trọng Hải, Giám đốc Xí nghiệp Vật tư và vật tư hóa chất Công ty Vật Tư và XNK hóa chất Hà Nội thẳng thắn cho rằng lệnh cấm ngày 1/7 của NHNN rốt cục chỉ khiến doanh nghiệp mất thêm thời gian, công sức tìm hiểu cách… thích nghi để tiếp tục “cùng nói dối nhau” nhằm xoay sở cho ra lượng USD cần thiết.

Ông Đoàn Trọng Lý, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Chăn nuôi Chế biến và xuất nhập khẩu (Aprocimex) cũng tỏ ra bức xúc “Thống đốc NHNN cứ cho rằng quản lý ngày càng chặt chẽ nhưng không thể mua được USD với giá niêm yết. Chúng tôi cần 3 triệu USD/tháng để nhập khẩu, riêng tiền chênh lệch đã mất mấy trăm triệu đồng”.

“Không thêm cộng tiền vào tỷ giá không thì không được việc, miễn sao cộng trừ xong vẫn thương vụ vẫn dương là được”, ông Hải kết luận.

Phương thức “thích nghi” thông dụng là ngân hàng thương mại kết nối giữa doanh nghiệp xuất khẩu có USD hoặc ngân hàng khác với doanh nghiệp nhập khẩu cần mua. Hai bên tự thỏa thuận trên trần tỷ giá niêm yết cộng thêm bao nhiêu tiền và thanh toán chênh lệch với nhau.

Nhìn bề ngoài, ngân hàng không vi phạm luật mà chỉ đứng giữa, làm hợp đồng mua bán trong giá trần. Nhưng theo ông Nguyễn Văn Bình, Giám đốc Trung tâm Nhập khẩu Vật tư và Thiết bị Hà Nội do ngân hàng thu xếp hết.

“Chi phí đội lên rất nhiều như hôm chúng tôi mua, tỷ giá là 17.806 VND/USD, cộng thêm 650 đồng/USD thành gần như giá chợ đen. Mỗi lần muốn mở L/C cần từ vài chục nghìn đến vài triệu USD, chênh hẳn một khoản lớn, tất cả lại dồn lên khách hàng thôi”, ông Bình cho biết.

Hoặc doanh nghiệp và ngân hàng mua bán USD với nhau thông qua một đồng tiền thứ ba do NHNN không ấn định tỷ giá tiền đồng với các ngoại tệ như đô la Úc, đô la Canada, euro, yên Nhật…

Tuy nhiên, cách đang được nhiều doanh nghiệp nhập khẩu chọn là liên kết thẳng với doanh nghiệp xuất khẩu, giao dịch thẳng với nhau đỡ được một khoản chênh lệch qua ngân hàng. Nhanh gọn hơn nữa là tranh thủ ngay chức năng xuất nhập khẩu của DN có nguồn thu USD để ủy thác nhập khẩu với chi phí “mềm” hơn tự đi chạy chọt USD rồi mở L/C theo cách thông thường.

Dù chọn cách nào, nhờ biết cách “lách” cùng nhau, cuối cùng phần lớn các doanh nghiệp vẫn có thể xoay xỏa qua cánh cửa hẹp. Bởi xét cho cùng khi nguồn cung vẫn bị kìm hãm ở đâu đó, không được giải tỏa, điều tiết bởi thị trường thì mọi biện pháp hành chính cũng chỉ cho kết quả như bịt lỗ thủng, bịt chỗ này, lại thủng chỗ khác.

NHHH luôn cho rằng không thiếu ngoại tệ và duy trì chính sách tỷ giá linh hoạt nhưng khi chênh lệch đến gần 1.000đồng/USD mà vẫn neo tỷ giá thì tôi không hiểu thế nào là linh hoạt. Nguyên nhân cơ bản của việc đóng băng là do chính sách tỷ giá không thích hợp.

Thứ nhất, đang tồn tại một khoảng cách tương đối lớn giữa thị trường chính thức và bên ngoài, đủ để người ta có thể thu lợi. Việc cộng thêm các khoản phụ phí là một cách đưa giá chính thức về gần giá trị thực của thị trường. Cơ chế này làm cho người ta phải nói dối.

Thứ hai, nhà nhập khẩu không thể không có USD. Họ huy động trên thị trường chợ đen hoặc vào ngân hàng mua với giá thỏa thuận có phụ phí. Nay bị chặn cả hai đường, gây khó khăn và tăng chi phí giao dịch nhưng thị trường sẽ tìm ra một ngách khác để xoay ra USD.

Có điều, NHNN đã không tính đến chi phí doanh nghiệp bỏ ra về thời gian và tiền bạc chỉ để đi săn USD, chưa kể còn tạo cơ hội cho một số người trục lợi, thể hiện cả bên ngoài và bên trong.

Cho nên tất cả các biện pháp cấm đoán đó không phải là cách lâu dài. Cách lâu dài, cơ bản là phải thu hẹp khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do. NHNN cứ im lặng như hiện nay không có động thái gì sẽ tạo ra độ bất định trên thị trường, khiến người ta đoán già đoán non dẫn đến hành xử không như mong muốn, tạo ra sự thiếu USD rất giả tạo.

(Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright)

  • Phan Hùng
  • source
  • http://www.vietnamnet.vn/kinhte/2009/07/860290/

Sunday, 26 July 2009

Google - thương hiệu 100 tỉ USD đầu tiên thế giới

Chủ Nhật, 26/07/2009, 11:44

Google - thương hiệu 100 tỉ USD đầu tiên thế giới

TTO - Google có giá trị thương hiệu cao hơn Microsoft 25%, lập kỉ lục trở thành thương hiệu đầu tiên thế giới ước tính có trị giá vượt ngưỡng 100 tỉ USD.

Theo bảng xếp hạng top 100 thương hiệu mạnh nhất toàn cầu mới do Công ty tư vấn - nghiên cứu thị trường Millward Brown Optimor và tạp chí Financial Times công bố, Microsoft xếp hàng thứ 2, nhưng thương hiệu này chỉ khoảng 76,2 tỉ USD.

Lần đầu tiên hãng sản xuất nước ngọt hàng đầu thế giới Coca-Cola lên vị trí thứ 3 với trị giá thương hiệu ước tính 67,6 tỉ USD.

Bất kể bối cảnh u ám của nền kinh tế thế giới, giá trị thương hiệu của top 100 tên tuổi lớn nhất trên thế giới vẫn tăng lên 2% so với năm ngoái, đạt 2 nghìn tỉ USD - mức tăng trưởng biên là 1,7%.

Sau hơn 10 năm khởi nghiệp, thương hiệu Google đã vượt ngưỡng 100 tỉ USD và dẫn đầu thế giới.

Ngày càng nhiều người dùng sở hữu iPhone và BlackBerry nên nhu cầu dịch vụ dữ liệu tăng mạnh, đó là lí do vì sao lần đầu tiên Vodafone gia nhập vào danh sách top 10, tăng 45% giá trị thương hiệu trong năm qua.

Để đánh giá một thương hiệu nào đó, các nhà phân tích dựa vào 3 yếu tố: lợi nhuận doanh nghiệp nhờ vào thương hiệu, số lợi nhuận được xem là chỉ nhờ vào thương hiệu và các thương hiệu phụ - nguồn lợi nhuận tiềm năng.

Đáng ngạc nhiên là mức tăng trưởng của Google chỉ nhờ hầu hết vào một sản phẩm duy nhất là công cụ tìm kiếm trứ danh, hoàn toàn khác với những “ông lớn” trong ngành công nghệ. Xem chi tiết bản báo cáo tại đây.

NHẬT VƯƠNG (Theo Thenextweb)

source

http://nhipsongso.tuoitre.com.vn/Index.aspx?ArticleID=328457&ChannelID=16

Friday, 24 July 2009

Lo ngại tiền đồng mất giá?

Lo ngại tiền đồng mất giá?

Đôla Mỹ

Một trong các quan tâm của người dân và các doanh nghiệp là dự trữ bằng loại tiền gì

Hãng tin tài chính Bloomberg hôm 22/7 có bài phản ánh thực trạng tiền đồng của Việt Nam mất giá ở mức kỷ lục so với đôla Mỹ - với 1đôla Mỹ đổi được 17860 đồng.

Hãng này trích lời Tổng giám đốc một ngân hàng lớn nói về điều được mô tả là tình huống đáng lo ngại khi mọi người quay lưng lại với tiền đồng và giữ các tài sản khác trong đó có đôla.

Trong khi đó hiện cũng có quan ngại lạm phát có khả năng tăng lại trong giai đoạn từ nay tới cuối năm.

Vậy các quan ngại này có cơ sở hay không? Đài BBC đã đặt câu hỏi này cho tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại VN:

Ts Vũ Thành Tự Anh: Thực ra thì đồng tiền Việt trong năm 2008 bị giảm giá khoảng 10% - tức là so thời điểm từ cách đây một năm với hiện tại thì đồng Việt Nam bị giảm giá gần 10% so với đồng đôla. Như vậy, rõ ràng là giảm giá gần 10% so với mức độ lạm phát thì nó không phải là quá cao.

Tuy nhiên, điều tôi nghĩ các doanh nghiệp và người dân lo lắng là tương lai của đồng tiền trong sáu tháng cuối năm và trong năm sau sẽ như thế nào? Tâm lý của người có thu nhập, những người có tiền, là họ phải quyết định giữ đồng tiền đấy dưới dạng nào?

Một trong các hình thức giữ tiền là dưới dạng đôla. Thế thì nếu đồng tiền VN tụt giá quá nhiều so với đồng đôla thì họ sẽ chuyển sang tiền đôla.

Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh VNN)

Tiến sĩ Tự Anh là giám đốc chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại VN

Còn tâm lý quay lưng lại với đồng tiền Việt thì tôi nghĩ cũng không hoàn toàn chính xác, bởi vì nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng tiền gửi tiết kiệm bằng tiền đồng thì vẫn cứ tăng chứ không phải là giảm, tức là không có hiện tượng người ta rút tiền đồng ra để sau đó đi mua đô một cách ào ạt. Chuyện đó chúng ta chưa thấy.

Còn nhìn về khu vực doanh nghiệp thì có một hiện trạng là các doanh nghiệp xuất khẩu khi xuất khẩu thu được tiền đô thì muốn giữ tiền đô chứ không muốn bán cho ngân hàng, với lý do một phần là sợ rủi ro về tỉ giá, thứ hai nữa là bản thân họ cũng phải dùng tiền đô đấy để đi nhập khẩu. Tức là nhà xuất khẩu đồng thời lại là nhà nhập khẩu, chứ không phải có riêng một cái nhóm gọi là nhà nhập khẩu hay nhà xuất khẩu.

Vì sự chênh lệch giữa tỉ giá chợ đen (phi chính thức) và tỉ giá chính thức nó lớn đến như vậy và đang có xu hướng càng ngày càng dãn ra, thì lập tức người ta phải phòng vệ thôi. Tôi nghĩ cái việc mà người ta hay gọi là găm giữ tiền đô thì nó là cái việc rất là bình thường với chế độ hai giá như hiện nay.

BBC:Câu hỏi lớn hơn là giá trị của tiền đồng từ nay cho tới cuối năm, nhiều người cũng liên hệ tới việc mất giá tiền đồng với khả năng lạm phát mà thậm chí có người nói rằng có thể lên tới gấp đôi so với sáu tháng đầu năm thì điều này có cơ sở hay không?

Ts Vũ Thành Tự Anh: Tôi nghĩ là tỉ giá giữa đồng VN với đồng đôla phụ thuộc vào mấy yếu tố. Thứ nhất, nó liên quan tới cán cân thương mại, cán cân ngoại thương. Nếu chúng ta nhập siêu nhiều, rõ ràng nó sẽ ảnh hưởng không tốt đến tỉ giá này theo hướng là nó sẽ làm cho đồng tiền Việt Nam mất giá hơn.

Thực tế là trong sáu tháng đầu năm nay, tỉ lệ nhập siêu ở Việt Nam giảm rất đáng kể so với nửa đầu năm ngoái. Nếu thời điểm này của năm 2008, nhập siêu của Việt Nam là khoảng độ 30-35% của GDP, thì đến thời điểm này là trên 500% GDP, tất nhiên là chúng ta tính ở đây là tính cả vàng - loại vàng ra thì nó ở khoảng độ gần 15%.

Tức là cán cân thương mại được cải thiện. Thế nên sức ép đối với tiền đồng ở góc độ này là không cao.

Nếu như quĩ đạo chính sách hiện nay vẫn được tiếp tục thì có nguy cơ đến năm 2010 lạm phát sẽ quay trở lại, và có thể sẽ dẫn tới tình huống của năm 2007, tức là lạm phát cao, sau đó các doanh nghiệp và các ngân hàng phải đua nhau tăng lãi suất, và điều đó sẽ dẫn tới nền kinh tế quá nóng...

Ts Vũ Thành Tự Anh

Tuy nhiên đứng dưới góc độ khác, một là lạm phát và hai là chính phủ vẫn tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng, tôi cho là tỉ lệ lạm phát, chỉ số CPI trong mấy tháng cuối năm chắc chắn sẽ cao hơn so với đầu năm, đó là chuyện chắc chắn. Chỉ có điều cao hơn bao nhiêu, thì có nhiều mô hình và các cách tính toán khác nhau.

Nhưng tôi sẽ không ngạc nhiên nếu đến cuối năm nay, con số CPI trung bình ở VN ở vào khoảng 7,8%. Nếu mà nói trên 10 hoặc 15% - thậm chí có một số nhà nghiên cứu dự báo tới 25% - thì tôi nghĩ là không có cơ sở. Một cái mức nào đó trên dưới 10% - không quá xa 10% - thì tôi nghĩ là một kỳ vọng hợp lý.

Vấn đề thứ hai là chính sách nới lỏng tiền tệ và tín dụng, như tôi hiểu hiện nay chính phủ đã bắt đầu lo ngại về lạm phát. Thế nên chính phủ đã bắt đầu có chính sách hạn chế dần tín dụng và đặc biệt là có những khuyến cáo, ví dụ hạn chế tín dụng tiêu dùng, hạn chế thị trường tín dụng và bất động sản, chứng khoán…vv..

Tôi nghĩ đây là những định hướng chính sách đúng đắn. Chỉ có điều nó được thực hiện như thế nào, hiệu quả ra sao, chúng ta chưa thể khẳng định được ở thời điểm này mà phải chờ xem.

BBC:Việc tiền đồng của VN mất giá thì cũng có lợi cho xuất khẩu đúng không ạ?

Ts Vũ Thành Tự Anh: Đúng thế, về nguyên tắc khi tiền đồng của VN mất giá thì nó sẽ tăng cao được khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu Việt Nam. Tuy nhiên, nên lưu ý là điều này chỉ đúng khi tỉ giá hiệu dụng - tức là tỉ giá sau khi điều chỉnh mức độ lạm phát - phải được tăng lên.

mẫu tiền polymer VN

Ông Tự Anh nói mức độ mất giá của tiền đồng hiện nay chưa đáng lo ngại

Bởi vì nếu chúng ta chỉ nói tỉ giá thuần túy, nó không đúng với bản chất kinh tế. Mà chúng ta phải tính tỉ giá sau khi điều chỉnh lạm phát. Thế nên nếu như đồng tiền Việt Nam mất giá, ví dụ 5%, mà lạm phát của Việt Nam lại trên 5% thì nó cũng không giúp được gì cho nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu VN cả.

Tỉ giá đồng tiền là một chuyện, nhưng cái tỉ lệ lạm phát phải thấp hơn tốc độ mất giá, thì lúc đấy nó mới có tác dụng.

BBC:Và nếu dựa trên một số biện pháp khống chế lạm phát của VN từ năm ngoái tới nay thì tính hiệu quả của các biện pháp này như thế nào?

Ts Vũ Thành Tự Anh: Tôi nghĩ khi chính phủ bắt đầu thắt chặt tín dụng, thắt chặt cung tiền và giảm đầu tư công vào quí ba năm 2008 thì tác dụng của nó hầu như thấy ngay lập tức.

Tức là khi chính phủ hành động với những định hướng chính sách đúng đắn, cụ thể là thắt chặt tín dụng, thắt chặt tiền tệ, giảm đầu tư công và tăng lãi suất thì lập tức CPI của VN giảm.

Đến thời điểm này, CPI của tháng 6/2009 so với tháng 6/2008 chỉ ở mức khoảng 5% thôi, và nếu tính trung bình của sáu tháng đầu năm thì CPI trung bình ở khoảng độ 10.25% gì đó, là ở mức mà tôi nghĩ hoàn toàn có thể kiểm soát được.

Và nếu chiều hướng này còn tiếp tục, cộng với cả ngân hàng nhà nước bắt đầu giảm bớt tín dụng, đặc biệt là khuyến cáo các ngân hàng thương mại là không tăng tín dụng cho vay bất động sản và chứng khoán tiêu dùng quá mức, tôi nghĩ tỉ lệ CPI của VN trong năm nay sẽ dừng ở mức độ kiểm soát được.

Tuy nhiên, phải nói thêm, nếu như quĩ đạo chính sách hiện nay vẫn được tiếp tục, có nguy cơ là đến năm 2010 lạm phát sẽ quay trở lại, và có thể sẽ dẫn tới tình huống của năm 2007, tức là lạm phát cao, sau đó các doanh nghiệp và các ngân hàng phải đua nhau tăng lãi suất, và điều đó sẽ dẫn tới nền kinh tế quá nóng như năm 2007.

Nếu chúng ta hạn chế và kiểm soát tín dụng tốt từ bây giờ thì sẽ không lặp lại chuyện đó, còn nếu như quỹ đạo chính sách hiện nay, với tăng trưởng tín dụng rất nhanh, 5-7%/tháng như hiện nay, nguy cơ quay trở lại tình huống năm 2007 là hoàn toàn có thể.

Source

BBC Vietnamese