Friday, 24 July 2009

Lần theo mê-lộ có đường hầm của Hệ Thống Tiền Tệ Mỹ


Lần theo mê-lộ có đường hầm của Hệ Thống Tiền Tệ Mỹ

B.S. Nguyễn Lưu Viên, Jul 22, 2009 Lời nói đầu: Cả năm qua báo chí Mỹ thường hay nói tới việc mất giá của đồng dollar, tới việc mắc nợ của chánh phủ Mỹ, rồi hay nhắc tới Federal Reserve, và tới tên của Ông Greenspan. Tôi không có học ÉcoPo của Pháp, không có học MBA của Mỹ nên mù tịt. Nhưng vì tò mò muốn hiểu biết, nên tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi đó đây. Thì mới thấy rằng vấn đề tiền tệ của Mỹ là cả một mê-lộ có đường hầm, (un vrai labyrinthe avec des souterrains) một con đường máng dện chằng chịt mà nếu đi không có bản chỉ dẫn thì sẽ dễ bị lạc.

Rồi tôi nghĩ rằng trong số độc giả của Y Tế Nguyệt San chắc cũng có một ít bạn đọc mù tịt như tôi, nhưng không có thì giờ để nghiên cứu đó đây như tôi, nên tôi viết bài này tóm lược và giản-dị -hóa tối đa một vấn đề vô cùng phức tạp đã kéo dài theo lịch sử của Hoa-kỳ, để giúp phần nào các bạn ấy hiểu sơ sơ vấn đề về đồng dollar là một thực thể mà mình phải đốí phó hằng ngày. Tôi sẽ dùng phương pháp hỏi và đáp (H & Đ) để dẫn đường quý bạn đi trên mê lộ và trong đường hầm ấy.

Tôi xin lưu ý quý bạn: Vì trong bài có vài ba cụm-từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nên tôi sẽ viết tắt các cụm từ ấy như sau: FED là Federal Reserve, CPLB là Chánh Phủ Liên Bang, HCQHK là Hiệp Chủng Quốc Hoa-Kỳ USA và T.T. là Tổng Thống.

I- Tạo ra tiền (create money).

H-: Dollar là tiền chính thức của HCQHK. Vậy ở bên Mỹ cơ quan nào có quyền phát hành dollar?
Đ-: Câu trả lời tự nhiên và thông thường mà cũng hợp lý là Bộ Tài Chánh của CPLB. Nhưng trên thực tế thì không hẳn như vậy. Bộ Tài Chánh của CPLB chỉ có quyền phát hành “coins” nghĩa là đúc (mint) các đồng tiền One Cent, Five Cents, One Dime, One Quarter, và một số đồng tiền One Dollar.
H-: Vậy thì cơ quan nào có quyền phát hành giấy xanh dollar?
Đ-: Chỉ có Federal Reserve (FED) mới có quyền phát hành giấy xanh dollar.
H-: Tôi thấy trên giấy xanh dollar nào cũng có hình của một ông Tổng Thống Mỹ, cũng có chữ ký tên của “Treasurer of the United States”, và của “Secretary of the Treasury” mà không phải do Department of Treasury của CPLB phát hành là gì ?
Đ-: Vâng, coi vậy mà không phải vậy. Trên giấy xanh dollar nào cũng có in hàng chữ “Federal Reserve Note” mà chữ note ở đây có nghĩa là “ a paper acknowledging a debt and promising payment; promissory note”. Tức là tờ giấy xanh dollar nào cũng là một tờ giấy nợ.
H-: Ai nợ ai?
Đ-: Chánh Phủ Liên Bang nợ FED.
H-: Sao lại có chuyện đó?
Đ-: Số tiên CPLB cần luôn luôn nhiều hơn số tiền thuế của dân đóng góp, nên CPLB phải mượn. Mượn ai? Mượn FED là cơ quan duy nhứt có quyền phát hành tiền dollar. Mượn bằng cách nào? Bằng cách cho phép Bộ Tài Chánh (The Treasury Department) in giấy nợ dưới hình thức “Federal Bonds” (là giấy IOU I Owe You) trong đó chánh phủ cam kết sẽ trả lại với tiền lời) (mà bách-phân lời % interest) là do FED. chủ nợ, quyết định). FED chấp nhận và in (thí dụ như một tỷ dollars $1 billion) đưa cho chánh phủ. Thế là chánh phủ (tức là quốc gia, là dân Mỹ) nợ FED một tỷ dollars với tiền lời. Rồi mỗi năm tiền nợ đó chồng chất lên nên đến năm 1995 số tiền nợ là $5 trillion (1 trillion là 1 ngàn tỷ) và đến ngày 16-3-2006 là hơn $8,21 trillion.
H-: FED là một cơ quan của Liên Bang, vậy CPLB mà nợ FED thì có khác gì là “Tôi nợ Tôi”.
Đ-: Khác, vì FED là một cơ quan mang tên là “Liên Bang” (Federal) nhưng không phải của Liên Bang. FED là một công-ty độc lập của tư-nhân (a corporation independent privately owned).
H-: Privately owned thì ai own nó?
Đ-: Federal Reserve (FED) gồm có 12 cái Fed bank địa phương (twelve regional federal reserve banks) mỗi cái là sở-hữu của những nhà bank buôn bán tư thành viên của cái Fed địa phương đó Các Fed địa phương có trụ sở ở: 1- Boston, 2-New York, 3-Philadelphia, 4-Cleveland, 5-St Louis, 6-San Francisco, 7-Richmond, 8-Atlanta, 9-Chicago, 10- Minneapolis, 11- Kansas City và 12-Dallas.

Fed Bank của New York có đa số cổ phần (53% of shares). Mà trong Fed bank của New York, Citibank và J.P.Morgan Chase Co nắm đa số cổ phần. Citibank là của gia-đình Rockefeller và J.P. Morgan Chase Co là của gia-đình Morgan. Hai gia đình này và gia đình Carnegie với gia đình Rothschild là thành phấn quan trọng nhứt của một nhóm người mà học giả Mỹ gọi là “the Robber Barons” (những Nam-tước Trộm Cắp).

H-: Nhưng trong Ban Quản Trị (Board) của FED ở Washington có Ông Tổng Trưởng Tài Chánh (the Treasury Secretary) và Ông Giám Sát Ngân Khố (the Comptroller of Treasury) là nhân viên chánh phủ.

Đ-: Vâng, vì vậy mà trên các giấy xanh dollar có chữ ký tên của hai ông này. Và T.T. Mỹ cũng bổ nhiệm (với sự chấp thuận của Senate) ông Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (Chairman of The Governing Board) của FED, cho nên FED được coi như là một cơ-quan “gần như chính thức” ( quasi-governmental). Hội Đồng này gồm có 7 người, với nhiệm kỳ là 14 năm, mà Tổng Thống chỉ có quyền thay thế một người mỗi hai năm.

Như vậy, thí dụ như có một ông T.T. muốn sữa đổi FED theo ý của ông, thì trong nhiệm kỳ 4 năm của T. T, ông chỉ thay thế được có 2 người (vì ông chỉ có quyền thay thế một người mỗi 2 năm.) Thôi thì cho rằng ông ấy là một ông T. T. tài ba lổi lạc, vượt qua được những khó khăn và những chống đối mà ông đã gây ra (vì quan niệm muốn sửa đổi FED), trong hàng ngũ dân-biểu và nghị sĩ của cả hai đảng, trong chính trường và trong media, để ông được đắc cử một nhiệm kỳ thứ hai, thì ông sẽ bổ nhiệm được 2 người nữa trong Governing Board (nếu được the Senate chấp thuận) thì cho đến gần cuối nhiệm kỳ 2, ông mới đưa ra được một dự luật sửa đổi, mà chưa chắc dự luật ấy sẽ có được số phiếu cần thiết ở hai viện để trở thành một đạo luật trước khi ông phải rời khỏi Nhà Trắng.

Mặt khác ban Quản Trị (Board) không kiểm soát được cả 12 Fed bank địa phương và các Fed bank địa phương phải theo chánh sách của Fed Bank New York nắm đa số cổ phần. Vả lại FED kể từ khi thành lập cho tới nay, chưa bao giờ bị chánh phủ “audit”( soát xét ) vì năm 1975 dự luật (bill) H.R.4316 cho phép chánh phủ “audit” FED, được đưa ra Congress, nhưng dự luật không qua được vì không đủ phiếu.

Hãy xem như ông Alan Greenspan đang làm giám đốc công ty (corporate director) cho J.P. Morgan, thì được T.T. Reagan bổ nhiệm năm 1987 làm Chủ Tịch của FED, giử chức đó gần 19 năm, đến năm 2006 dưới thời T.T.George W. Bush mới về hưu. Nghĩa là đã làm Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị FED với bốn T.T. mà trong lúc tại chức ông không bao giờ có họp báo, không bao giờ cho phỏng vấn, tức là không có việc hỏi han chất vấn lôi thôi.

H-: Trở lại đồng dollar. Bây giờ tôi mới biết rằng CPLB chỉ có quyền đúc coins, còn quyền phát hành giấy xanh là của FED, mà FED thì bị các nhà bank tư nắm. Vậy trong tổng số tiền của Mỹ, tỷ-lệ của mỗi thứ tiền là bao nhiêu?

Đ-: Tiền coin của CPLB đúc chỉ là lối một phần ngàn tổng số tiền của Mỹ, cộng với tổng số tiền giấy xanh của FED phát hành, thành ra cái được gọi là “tiền sờ thấy được” (tangible currency) chỉ có lối 10% tổng số tiền được cung cấp (American Money Supply)

H-: Sao kỳ vậy? Còn 90% kia là tiền gì ở đâu ra?
Đ-: Phần 90% còn lại là tiền ma (phantom money).
H-: Tiền ma là tiền gì?
Đ-: Là tiền không có thật, là tiền được tạo ra từ chỗ không có gì hết (money created from nothing), do cái trò ảo-thuật cho vay (gọi là “loan”) tạo ra.
H-: Thật sự tôi không hiểu được.
Đ-: Thực ra thì cũng không có gì khó hiểu cho lắm. Trò ảo thuật tạo ra tiền từ con số không (create money out of nothing) dựa trên cái gọi là “fractional reserve banking” do đạo-luật tạo ra FED (Federal Reserve Act) cho phép. Theo đó thì khi mà nhà bank có trong kho của nó một số tiền X là tiền thật (hồi xưa là vàng, bây giờ là giấy xanh) được coi như là để dự-trữ (reserve), thì nó có quyền phát ra 10 X (tức là có 9 X tiền ma, không có bảo đảm reserve).

Thí dụ như tôi gởi vào nhà bank trong checking account của tôi $ 10,000 thì nhà bank để số tiền đó trong kho của nó như reserve, và nó có quyền phát ra $100,000 (tức là trong đó có $ 90,000 là tiền ma, vì không có reserve bảo đảm) Cũng như thế, Anh B để vào bank trong saving account $ 20,000, thì nhà bank có quyền phát ra $200,000 (tức có $180,000 là tiền ma). Tổng cộng nhà bank có quyền phát ra $300,000 mà trong đó có $270.000 là tiền ma. Rồi khi Anh C đến mượn nhà bank $300,000 (để mua nhà, sửa nhà hay làm gì khác) thì nhà bank cho ảnh mượn (dưới hình thức loan) $300,000 đó. Anh C sẽ trả cho nhà bank số tiền đó cộng với lời (x %) dưới hình thức mortgage hằng tháng, trong 15 hoặc 30 năm chẳng hạn, bằng tiền dollar thật, mà Anh C có được nhờ lương của Anh C, hoặc nhờ việc làm (như phòng mạch) của Anh. Tức là nhà bank, nhờ cái ảo-thuật của “loan” đã “create money out of nothing”.

Thí dụ trên là lấy cá nhân A, B, C làm mẫu, nên chỉ nói tới tiền với con số ngàn, nếu là nhà buôn, là nhà hàng, là hãng, là cơ sở sản xuất, thì tiền phải là tới số triệu. Mà cả HCQHK có hằng bao nhiêu triệu cá nhân, nhà buôn, hãng, xưởng v.v. cân tiền và phải vay tiền của nhà bank dưới hình thức “loan” thì không có gì lạ khi thấy rằng trong tổng số tiền cung cấp cho nền kinh tế Mỹ (american money supply) năm 2005 là $9.7 trillion trong đó tiền thật (tangible currency) chỉ có $ 1.4 trillion, còn $8.3 trillion là tiền ma. Và sau này nguyên tắc đó cũng được áp dụng cho việc dùng credit card (Visa, Master Card, American Express v.v.) với một lải xụất (% interest) còn cao hơn gắp bội.

II- Một chút lịch sử.

H-: Từ đâu, tại sao, và từ hồi nào mới có cái quái thai đó?
Đ-: Anh nói là “quái thai” thì cũng đúng, nhưng học giả Mỹ thường ví FED như một con “Hydra”. Theo từ-điển Hydra là một con rắn có chín đầu (trong thần thoại) hể chặt đầu này thì nó mọc đầu khác, và nó có nhiều cái vòi (tentacles) rất dài để bắt mồi từ xa. FED (con hydra dưới hình thức hiện tại) sanh ra nhờ cái Federal Reserve Act năm 1913 do Tổng Thống Woodrow Wilson ký (về sau ông hối tiếc). Còn từ đâu và tại sao có nó, thì phải xem lại hết cái lịch sử của HCQHK vì trong dĩ vãng nó cũng đã bị chặt đầu nhiều lần, mỗi lần lại sống lại với một tên khác.
H-: Anh có thể tóm tắt cho chúng tôi biết một chút không?
Đ-: Tôi sẽ cố gắng tóm lược tối đa một câu chuyện dài mấy thế kỷ và chiếm vài trăm trang trong mỗi sách nói đến chuyện ấy mà tôi có dịp đọc.

Ở Trung học chúng ta học trong sách rằng HCQHK hồi xưa là 13 thuộc địa của Anh-quốc. Đến năm 1774, để phản đối việc mẫu-quốc Anh đánh thuế vào trà (tea tax) một buổi tiệc trà được tổ chức ở Boston (Boston Tea Party). Trong dịp đó một số người Mỹ giả làm người Da-đỏ nhảy lên tàu chở trà và vất các thùng trà xuống biển. Bị chánh quyền cai trị đàn áp, những đòan dân quân được thành lập để chống trả lại, và Ông Benjamin Franklin triệu tập một Hội Nghị gọi là Congress ở Philadelphia để đưa ra “Bản Tuyên Ngôn Quyền Của Người Mỹ Có Đóng Thuế” (Delaration des Droits du Contribuable Americain) năm 1774. Sau đó, với sự chiến thắng của đoàn dân quân của Massachusetts, Congress cho ra Bản Tuyên Ngôn Độc Lâp (Déclaration d’Indépendance ngày 4-7-1776.) Rồi dưới sự chỉ huy của Tướng George Washington, quân Mỹ đánh thắng quân Anh dưới quyền Tướng Cornallis ở Georgetown năm 1781, và theo Hòa Ước Versailles năm 1785 Anh-Quốc công nhận cho HCQHK độc lập.

Nhưng sau này một số học giả, sau khi đọc kỹ lại những tác phẩm của chính ông Benjamin Franklin viết hồi thời ấy, mới thấy là sự thật phức tạp hơn nhiều.

1-Vì không có tiền vàng hay bạc, nên kể từ năm 1691, các thuộc địa của Anh trên đất Mỹ phát hành tiền giấy gọi là “Colonial Scrip” để trả lương cho công chức và để cho dân xài trong việc mua bán trao đổi hàng hóa trả tiền công v.v. Mà người chủ nhà in lại chính là Ông Benjamin Franklin, người làm việc cho dân, vì dân, không tìm cái lời cái lợi trong việc in giấy bạc nên chỉ phát hành đúng theo nhu cầu, cần bao nhiêu thì phát hành bấy nhiêu, nên không cần lấy thuế của dân để chánh phủ có tiền, mà không tạo ra sự lạm phát (inflation) hay sự kém phát (deflation) nên giá vật và giá công (product and service) vẫn được đều hòa và thăng bằng, nhờ vậy mà các thuộc địa trở nên rất phồn thịnh, không có thất nghiệp, không có ăn mày, trong lúc mà ở London của mẫu-quốc ngoài đường có đầy ăn mày và người đi lang thang lêu lổng (The streets are covered with beggars and tramps). Thì các chủ nhà bank Anh (the British bankers) lobby triều đình, nên năm 1751, vua George II ra lệnh cấm các thuộc địa phát hành tiền giấy, mà phải dùng tiền “coins” của mẩu-quốc (do các nhà bank Anh đã hợp thành một thể dưới tên là Bank of England phát hành). Vua George III kế vị vua cha từ năm 1752 giữ nguyên lệnh ấy. Thì các thuộc địa bị ảnh hưởng tai hại. Vì thiếu tiền coins (do mẩu quốc siết để tạo sự kém phát deflation), người làm ruộng hay trồng tỉa không có đủ tiền mướn người làm nên lúa không ai gặt, trái không ai hái. Người có hãng xưởng không đủ tiền mướn thợ, hàng hóa không được sản xuất. Cả dân trong một vùng đất rộng lớn của 13 thuộc địa bị nghèo đói không gia đình nào không bị ảnh hưởng, nên họ đứng lên chống đối chánh quyền và đó là nguyên do sâu xa của cuộc Cách Mạng Mỹ năm 1774. Cái”Boston Tea Party” chỉ là giọt nước làm tràn cái bình.

2- Việc đầu tiên Congress làm là phát hành tiền giấy được gọi là “the Continental” dưới hình thức IOU (I owe you.) nghĩa là giấy nợ mà Chánh Phủ Cách Mạng cam kết sẽ trả lại bằng tiền coins (vàng hay bạc) sau này. Lối chừng 200 triệu dollars dưới hình thức “continental scrip” được phát hành để chi phí cho cuộc chiến giành độc lập. Thì mẫu quốc phản ứng bằng cách in tiền giả để đổ ào ạt vào thị trường các thuộc địa, gây ra môt cuộc đại-lạm-phát, làm cho đến ngày độc lập tiền “the Continental” hầu như không còn giá trị gì hết. Thế là mẫu-quốc thua trên chiến trường, nhưng thắng trên mặt trận kinh tế (dính liền với tài chánh).

3- Vì thấy tiền Continental gần như không còn giá trị, nên các nhà “Quốc Phụ Lập Quốc (the Founding Fathers), không còn tin tưởng nơi giấy bạc, nên trong Hiến Pháp được viết ra, các ngài không nói tới tiền giấy mà ghi rằng Congress có quyền “coin money” (thay vì “create money”) và có quyền vay tiền dựa trên uy tín của chánh phủ (“and to borrow money on the credit of the United States). Thì các nhà bank của mẫu-quốc Anh cũ, là các ngân hàng Anh quốc tư nhân; xâm nhập vào HCQHK tạo dựng US Bank theo mẫu của England Bank. Mà England Bank từ thời thành lập cho đến ngày hôm nay là do các nhóm tài phiệt tư nhân gốc gác Hòa-Lan (Amsterdam) nắm và chính các nhóm này xâm nhập vào hệ thống US Bank, khai thác lỗ hở to tát đó (the enormous loophole) mà nói rằng chiếu theo Hiến Pháp chánh phủ chỉ có quyền phát hành coins, và nhà bank có quyền phát hành tiền giấy. Vì tiền coins thì cồng kềng và quá nặng khi cần tới nhiều, nên nhà bank in giấy cam két sẽ trả lại đúng số coins (bằng vàng hay bạc) ghi trên giấy, thì dân chấp nhận coi những giấy ấy như là tiền.

4- Rồi với thời gian qua, các nhà bank để ý rằng rất ít người trở lại nhà bank để đòi lấy lại đồng tiền coins. Trung bình hằng năm chỉ có độ 10% người làm việc đó, còn 90% người còn lại thì không bao giờ thấy đến đòi lấy lại tiền coins. Thì nhà bank nghĩ rằng mình có thể phát hành thêm 90% nữa mà không sao. Đó là nguồn gốc của cái gọi là “fractional reserve” dẫn tới việc phát hành tiền ma.

5- Tổng Thống Thomas Jefferson (1801-1809) vị T.T. thứ ba của Mỹ thấy cái nguy hại cho đất nước và gọi liên đòan các nhà bank (the banking cartel) là ”một con quái vật ăn thịt ngưởi có cái đầu của con hydra” và Ông nói rằng “Nếu dân Mỹ để cho nhà bank kiểm soát việc phát hành tiền tệ của mình, thì trước hết bằng sự lạm phát (inflation) rồi bằng sự kém phát (deflation) các nhà bank và các công ty (corrporations) sẽ phát triển và tước đoạt hết tài sản của dân, thì con cháu chúng ta sẽ thức dậy vô gia-cư, trên cái lục địa mà cha mẹ của chúng đã chiếm được.” Nên năm 1811 Congress không chấp nhận tái bản cho đặc quyền (renew the charter) cho First U.S.Bank. Thì chiến tranh với Anh quốc (the War of 1812) bùng nổ. Chiến tranh đưa quốc gia đến sự lạm phát (inflation) và nợ nần (debt). Vì những lý do đó, Tổng Thống James Madison (1809-1817) vị T.T. thứ tư của Mỹ, phải ký một đặc quyền 20 năm (a twenty year charter) cho Second Bank of The United States vào năm 1816.

6- Tổng Thống Andrew Jacksaon (1829-1837) vị T.T. thứ 7 của Mỹ veto dự luật của Congress cho phép tiếp tục ban đặc quyền cho Second Bank of the United States. Trong bản veto Ông viết:” Không có cái gì nguy hại cho sự tự do và độc lập của chúng ta hơn là khi mà hệ thống nhà bank nằm trong tay của người ngoại quốc. Kiểm soát tiền tệ của chúng ta, lấy tiền của dân ta, và bắt giữ cả ngàn công dân của chúng ta phải lệ thuộc, thì còn đáng sợ hơn và nguy hiểm hơn là một thủy binh hay một quân đội của địch”.

Nhưng Ông cũng biết cái veto chỉ là bước đầu của cuộc chiến với nhà bank nên Ông nói: “ Con hydra của sự đồi bại mới bị chận lại chớ chưa chết”. Ông ra lệnh cho Ông Tổng Trưởng Tài Chánh (Treasury Secretary) mới của Ông, chuyển hết tiền deposits của chánh phủ từ Second US Bank qua các nhà bank của Tiểu Bang (state banks) thì ông này từ chối không làm. Ông T.T. cách chức ông ấy, và bổ nhiệm một người khác Ông này cũng từ chối không làm thì T.T. Jackson bổ nhiệm người thứ ba, Ông này thi hành lệnh nên T.T. Jackson vui mứng mà nói: “ Tôi đã trói được con quái vật rồi” Nhưng ông chủ nhà Bank, lobby được Senate không chấp thuận người được Tổng Thống bổ nhiệm và gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế với việc siết chặt sự cung cấp tiền, để tạo ra một sự kém phát (deflation) bằng cách hồi (call in) các “loan” cũ, không cho thêm “loan” mới, nên một sự hoảng hốt tài chánh (a financial panic) xẩy ra trong dân chúng, thì báo chí lại đổ tội vào đầu Tổng Thống Jackson. Nhưng may thay Ông Governor của Pennsylvania (là nơi có trụ sở của nhà bank) xuất hiện để ủng hộ T. T. Jackson và phê bình nhà bank rất gắt gao và kế hoạch làm lũng đọan kinh tế của nhà bank bị phơi bày trước công chúng.

Cho nên đến tháng 4- 1834 Hạ Viện (House of Representatives) với 134 phiếu thuận và 82 phiếu chống, đã hủy bỏ việc tái bản đặc quyền (rechartering) cho Second U.S.Bank. Đến tháng 1- 1835 thì T.T. Jackson trả được hết các nợ của chánh phủ. Rồi ngày 30-1- 1835, khi T.T. Jackson đến Capitol để dự tang lễ của Dân-biểu Warren R. Davis của South Carolina thì ông bị mưu sát bởi một tên thợ sơn “điên”(?) núp trong rotunda cách Ông có sáu feet bắn hai phát đều trật. Nhưng sau khi T.T. Jackson đóng cửa nhà bank trung ương (Central Bank) thì tiền giấy được dùng là những banknotes của của các nhà banks tư của các Tiểu Bang, hứa sẽ trả lại bằng vàng hay bạc chớ không phải là tiền của quốc gia (national currency).

7- Sau T.T. Jackson, ông tổng thống dám đánh con hydra tiền tệ là T.T. Abraham Lincoln (1861-1865), vị T.T. thứ 16 của Mỹ. Liền sau khi Ông đắc cử và trước khi Ông nhậm chức thì Nội Chiến Nam-Bắc (The Civil War) bùng nổ (1860) vì vấn đề “Nô-lệ” (Slavery). Các nhà bank của vùng Đông (tức là thuộc về Union) đề nghị cho chánh phủ vay $150 triệu với bách phân lời quá nặng từ 24 tới 26%. T. T. Lincoln từ chối và quyết định chánh phủ sẽ in tiền lấy. Tiền in ra có tên chính thức là “United Note’ nhưng dân chúng quen gọi là “Greenback” vì phía sau in bằng mực màu xanh lá cây. Tiền được quan niệm không phải là một giấy nợ (IOU) với cam kết trả lại bằng vàng hay bạc, mà là một tờ giấy chứng nhận công lao cho xã hội. Công lao sản xuất (product) từ lúa gạo, trái cây cho tới vải sồ và vật dụng, công lao dịch vụ (service) từ thợ, cai, đến giám đốc, công lao bảo vệ an ninh trật tự, và gìn giữ đất nước, từ lính cảnh sát đến lính và quan trong quân đội, công lao điều khiển bộ máy cai trị, từ thư ký đến giám đốc đến nguyên thủ quốc gia. Lãnh lương là lãnh giấy chứng nhận công lao, để mua thức ăn đồ dùng là trao giấy chứng nhận công lao của mình để nhận lấy món hàng được sản xuất với công lao tương đương của người bán.

Vì tiền được in ra vừa đúng nhu cầu của dân, cho dân, và vì dân, chớ không phải cho hay vì tư lợi nào hết, cũng như hồi thời Ông Benjamin Franklin lúc Hoa kỳ còn là 13 thuôc địa phồn thịnh, nên trong có bốn năm tại chức mà ngoài việc chiến thắng lọan Miền Nam được Anh giúp tiền, và việc giải phóng bốn triệu người nô lệ, T.T. Lincoln đã thực hiện cho nước Mỹ những công tác vĩ đại như: xây dựng và võ trang một quân đội lớn nhứt thế giới lúc bấy giờ, biến Hoa-kỳ thành một nước kỹ-nghệ khổng lồ (industrial giant), kỹ nghệ thép (steel industry) được thành lập, một hệ thống hỏa-xa xuyên lục-địa được xây dựng, Bộ Canh Nông được thành lập để thúc đẩy việc chế tạo máy và dụng cụ làm ruộng rẻ tiền, một hệ thống đại học miễn phí được thành lập nhờ Land Grant College System, lập lên những bộ máy hành chánh cho các vùng Miền Tây, tăng mức sản xuất lao động (labor productivity) lên từ 50 đến 75 %. Tất cả những việc ấy thực hiện được là nhờ có một việc rất giản dị là chính chánh phủ phát hành tiền. Tức là cái đầu của con hydra tiền tệ đã bị T.T.Lincoln chặt.

Nhưng đến ngày 14-4-1865, thì một kịch-sĩ tên là John Wilkes Booth ám sát T.T. Lincoln trong lúc Ông đang xem tuồng hát Our American Cousin trong rạp hát Ford’s Theatre ở Washington. Thế là con hydra lại có cơ mọc đầu lại. Và đầu nó mọc lại thật, vì dân vẫn thích có tiền vàng nên tiền greenback mất giá dần dần đối với đồng tiền dollar vàng. Thì các nhà bank phát hành banknotes bảo đảm trả lại bằng vàng. Dân chúng tin nên dùng những banknotes đó như tiền thật, cho tới năm 1913 thì một con hydra mới xuất hiện nhờ luật Federal Reserve Act 1913.

III- Tân hydra chào đời.

H- : Tai sao có Luật đó?
Đ-: Vì năm 1907 xẩy ra một cuộc “Kinh Khủng Tài Chánh” (a Financial Panic) nên năm 1908 T.T.Theodore Roosevelt (1901-1909), vị T.T. thứ26 của Mỹ, cho thành lập cái National Monetary Commission để chỉnh đốn vấn đề tài chánh. Chủ tịch của Commission đó là Ông Nghị Sĩ Nelson Aldrich (bên ngoại của David Rockefeller Sr.). Ông Aldrich dẫn cả commission đi tour sang Âu-châu để nghiên cứu trong vòng hai năm. Rồi khi trở về, Ông lập lên, một cách hòan tòan bí mật, một nhóm bị gọi là “The First Name Club” vì cấm triệt để không được nhắc tới Last Name để cho đầy tớ và người làm, dù có nghe trộm được cũng không biết là ai, để nói lại cho người ngoài và báo chí biết là có những ai. Nhóm đó gồm có một số người được chọn lọc rất cẩn thận trong giới tài chánh và ngân hàng. Trong số đó người sẽ đóng vai quan trọng nhất là Ông Paul Warburg (1868-1932) người gốc Đức di cư sang Mỹ năm 1904, được quốc tịch Mỹ năm 1911, và là thành viên của ngân hàng Kuhn, Loeb and Company Bankers ở New york (thuộc vào tài sản của Rothschild).

“First Name Club” được triệu tập đến một hòn đảo nhỏ bé, riêng biệt và vắng vẻ có tên là đảo Jekyll Island, ở Georgia, họp trong chín ngày liên tiếp, để viết một dự luật cải tổ hệ thống nhà bank và luật pháp tiền tệ (the banking and currency legislation) sẽ trình cho Congress.

H-: Trong dự luật có cái gì là đặc biệt?
Đ-: Có rất nhiều cái đặc biệt. Trước hết là cái tên: vì dân đã quá ghét. nên phải tránh cho kỳ được cụm-từ “Central Bank “ rồi phải làm sao cho dân tưởng rằng cơ quan này là của chánh phủ, do nhân viên chánh phủ điều khiển vì vậy mà có danh từ “Federal” và “Reserve“ (chớ không phải là Central Bank) và có Governing Board mà ông chủ tịch là do T.T. bổ nhiệm, và trong đó có hai nhân viên chánh phủ, mà trong thực tế thì Governing Board không có điều khiển được chánh sách của cơ quan. Rồi phải dùng những danh từ mờ ám khó hiểu để che giấu thực ý: như trong Lời Mở Đầu (Preamble) của dự luật nói: Mục đích của luật là để cho FED có thể “cung cấp một thứ tiền co dãn” (to furnish an elastic currency) nghĩa là gì?

Trong thực tế nghĩa là tiền mà nhà bank đã có thì nhà bank có thể, tùy nghi, thổi phồng lên. Rồi như danh từ “tái chiết khấu “(rediscounting) nghỉa là gì? Trong thực tế nghĩa là: một kỹ thuật cho phép nhà bank dùng để tăng gia tiền hiện có trong quỹ của nó, bằng cách cho vay thêm mà không cần chờ cho tới khi các loan trước hết hạn. Kết quả là Luật cho phép một nhà bank trung ương tư (a private central bank) tạo ra tiền từ chỗ không có gì hết (create money out of nothing) rồi cho chánh phủ vay số tiền đó để lấy lời và kiểm soát sự cung cấp tiền cho quốc gia bằng cách bơm phòng nó lên hay hút bớt nó xuống tùy theo ý muốn (control the national money supply, expanding or contracting it at will.)
H-: Thế mà không có Ông Nghị sĩ hay Dân biểu nào thấy sao?
Đ-: Có chớ. một số thấy và la làng lên .Như ở Hạ Viện Dân Biểu Charles Lindbergh Sr. (bố của phi công trứ danh Lindbergh) nói:” Luật tạo ra FED là một cái tội pháp luật tệ hại nhứt của mọi thời đại Hệ thống tài chánh đã bị lật lại cho một nhóm ngừơi chỉ có biết lợi dụng Hệ thống là của tư-nhân, được hướng dẫn về mục tiêu duy nhứt là lấy cho được những cái lợi tối đa từ việc xử dụng tiền của người khác “.

Và cũng còn một số dân biểu và nghị sĩ khác nữa la làng lên nhưng họ không đủ để đánh bại số dân biểu và nghị sĩ đã bị mua chuộc, đúng như lời của một người trong nhóm Rothschild ở London nói với một hội-viên của nhà bank ở New York ngày 25-6-1863 rằng: “Số nhỏ người hiểu cái hệ thống là gì, thì, hoặc là vì thấy có lợi cho mình, hoặc là vì đã tùy thuộc vào những ân huệ đang được hưởng, nên sẽ không có sự chống đối từ những hạng người đó. Còn nhóm đa số người không có đủ trí khôn để hiểu, thì sẽ chịu cái gánh nặng mà không than phiền”

Bởi vậy cho nên ngày 18-9-1913, dự luật được Hạ Viện chấp thuận với 287 phiếu thuận và 85 phiếu chống, rồi lên Thượng Viện thì ngày 19-12-1913, dự luật được chấp thuận với nhiều sửa đổi bằng 54 phiếu thuận và 34 phiếu chống. Đến đây lại có một việc lạ nhứt chưa bao giờ xẩy ra trong lịch sử của HCQHK, là trong cái bản văn của dự luật ở Hạ Viện có cho tới 40 điểm mà Thượng Viên không đồng ý nên đã sửa lại. Thì sau khi Thượng Viên biểu quyết, hai Viện phải ngồi chung lại để sữa lại sao cho cả hai bên đều đồng ý. Thế mà việc đó được thực hiện chỉ có trong một weekend. Cho nên ngày Thứ Hai 22-12-1913 dự luật được biểu quyết ở Hạ Viện với 282 phiếu thuận và 60 phiếu chống rồi cùng ngày, sang Thượng Viện được chấp thuận luôn với 43 phiếu thuận và 23 phiếu chống. Và T.T. Woodrow Wilson (1913-1921), vị T.T.thứ 28 của Mỹ ký thành Luật ngày hôm sau Thứ Ba 23-12-1913.

Tất cả những việc ấy xẩy ra một cách hết sức mau lẹ và trái ngược với tục lệ và truyền thống của Quốc Hội và của Chánh Phủ Mỹ là không bao giờ Lập Pháp Congress (Thượng và Hạ Viện) thảo luận và biểu quyết một Dự Luật vào lúc gần Noel, để cho Congress “recess” (thường thường là kể từ 15, 17 Dec.) và các Nghị Sĩ và Dân Biểu về quê của mình ăn mừng Christmas và New Year, và không bao giờ Hành Pháp (Chánh Phủ) ký một Đạo Luật vào Noel để cho T.T. về nhà riêng hay “ranch” của mình ăn mừng Christmas và New Year. Thế mà kỳ này Thượng Viên hợp lại, thảo luận, và biểu quyết ngày Thứ Sáu 19 Dec. Rồi cả hai viện làm việc với nhau weekend 20-21 Dec, để ngày Thứ Hai 22-Dec cả hai viện, hợp lại, thảo luận và biểu quyết dự luật, và ngày Thứ Ba 23 Dec. T.T. ký thành Luật.

Dân Biểu Lindbergh nói ở Hạ Viện: “Dự luật này thành lập cái “trust” khổng lồ nhất trên thế giới. Khi mà T.T. ký cái dự luật này (thành Luật), thì cái chánh phủ vô hình của Mãnh Lực Tiền Tệ sẽ được hợp-pháp-hóa. Dân chúng có thể không biết chuyện đó ngay, nhưng mà rồi sự biết được chuyện chỉ được dời lại vài năm sau mà thôi”. Trong lúc đó thì báo chí (đã ở trong tay của “Mãnh Lưc Tiền Tệ”) thì ca tụng hết lời. Báo New York Times viết bằng chữ lớn ở trang đầu: “Tổng Thống Wilson ký Dự Luật Tiền Tệ Sự phồn thịnh được tự do và sẽ giúp mọi giai câp.
H-: Thế là con hydra được khai sanh là đứa con hợp pháp của HCQHK để lớn lên với đất nước?
Đ-: Hay đúng hơn thì phải nói “để lớn lên với đứa em song thai”.
H-: Nói gì lạ vậy, đứa em song-thai nào?
Đ-: Khi nhóm của Nghị Sĩ Nelson Aldrich có Ông Paul Warburg chuẩn bị viết dự luật FED để trình cho Congress, họ đã tiên đóan rằng với sự áp dụng luật này thì CPLB sẽ mắc nợ FED càng ngày càng nhiều nên phải tím cách làm sao cho phép chánh phủ đánh thuế vào dân để có tiền trả nợ cho FED. thì họ kèm theo dự luật FED một Tu-Chỉnh Hiến Pháp (là the Sixteenth Amendment) cho phép CPLB đánh thuế income tax vào dân. Lúc ấy bản văn của Tu-Chỉnh chỉ có một trang giấy và nguyên Bộ Luật về thuế má chỉ có14 trang mà bây giờ thì nó dày đến 17,000 trang, cũng như nợ của chánh phủ do FED gây ra lớn lên từ số không cho tới bây giờ là $8.5 trillion.
H-: Bộ trước đó dân không phải đóng income tax cho CPLB sao?
Đ-: Không, trước 1913, dân chỉ đóng thuế income cho Tiểu Bang của mình mà thôi.
H-: Đã được hợp-pháp-hóa rồi, con hydra còn phá phách gì nữa không?
Đ-: Nói là phá phách thì không hẳn là phá phách, nhưng khi được hợp-pháp-hóa rồi thì FED hoạt động tích cực hơn, nên gây tai nạn cho dân.
H-: Tai nạn gì?
Đ-: Cuộc Đại Khủng Hoảng (The Great Depression) năm 1930.
H-: Bằng cách nào?
Đ-: Bằng cách tạo ra tiền “out of nothing” qua trò ảo-thuật “loan”. Để khuyến khích dân vay tiền, nên FED hạ thấp bách phân lời (% interest) thì dân ùn ùn vay loan và loan để có tiền tiêu xài thả ga. Thì nhà bank thảy vào nền kinh tế quốc gia một số tiền khổng lồ, tạo ra một cuộc lạm phát (inflation). Rồi nói là để kềm hảm sự lạm phát, thì lại siết chặt việc cung cấp tiền, thu hồi các loan đả phát ra, không cho vay loan mới, thì dân thiếu nợ phải vội vàng bán nhà cửa ruộng đất để trả nợ, nên những người có liên hệ với “Mãnh Lực Tiền Tệ (Monetary Power) có tiền mua những bất động sản ấy với giá rẻ mạt. Còn con cháu những người thiếu nợ thì trở nên vô gia cư vô nghề nghiệp đi lang thang thất thểu ngoài đường như hồi Mỹ còn là 13 thuộc địa dưới thời các vua George II và vua George III, trước ngày Cách Mạng Mỹ (American Revolution) năm 1774. Nhưng nhờ chánh sách “New Deal” của T.T.Franklin D.Roosevelt (1933-1945) vị T.T. thứ 32 của Mỹ, và việc lập lên cái FDIC (Federal Deposit Insurance Corporation) mà tình thế trở lại yên ổn. Giáo sư Milton Friedman, Nobel Prize về kinh tế, viết: “Nhứt định là FED đã gây ra cuộc Đại Khủng Hoảng vì thu rút lại một phần ba (1/3) số tiền đang lưu hành từ năm 1929 tới năm 1930”.

Còn Ông Louis T. McFadden Chủ tịch The House Banking and Currency Commttee, thì nói: “Cuộc khủng hoảng không phải là bất ngờ ngẫu nhiên mà là một việc được trù liệu rất cẩn thận … Những chủ nhà bank quốc tế tìm cách đem đến đây sự thất vọng để rồi họ có thể trở thành nhưng kẻ ra lệnh cho tất cả chúng ta”
H-: Thế rồi kể từ đó không có Ông T.T. nào dám đụng tới FED nữa?
Đ-: Có chớ, T.T. John F. Kennedy, (1961-1963) vị T.T. thứ 35 của Mỹ. Ngày 4-6-1963 T.T. Kennedy ký một Hành Pháp Lệnh (an Executive Order số 11110) cho phép CPLB phát hành tiền mà không phải qua FED bằng cách cho phép Bộ Tài Chành The Treasury phát hành những giấy chứng nhận bạc đối với mọi thoi bạc, bạc, hay là mọi dollar dựa trên bản vị bạc của Bộ (the power to issue silver certificates against any silver bullion, silver or standard silver dollars in the Treasury) Nghĩa là một khi Bộ Tài Chánh có trong kho một ounce bạc nào, thì Bộ có quyền phát hành ra một giấy bạc để lưu hành trong nền kinh tế. Như vậy T.T.Kennedy đã tung ra $4.3 tỷ dollars cho lưu hành. Thì FED bank của New York sẽ phá sản, vì dân chúng biết rằng các giấy chứng nhận bạc (silver certificates) của Chánh Phủ được bạc yểm trợ (backed by silver) chớ giấy bạc của FED (Federal Reserve Notes) không có cái gì yểm trợ hết. Lệnh số 11110 nói trên còn giúp chánh phủ trả hết nợ của mình mà không phải qua FED để trả tiền lời, do FED tạo ra tiền out of nothing. Tức là trên thực tế Lệnh sô 11110 cho CPLB quyền tạo ra tiền của mình có bạc yểm trợ, đúng theo Điều I, Phần 8 của Hiến Pháp Hoa Kỳ.
Năm tháng sau, ngày 22-11-1963, T.T.Kennedy bị tên Lee Harvey Oswald ám sát và tên này hai ngày sau bị Jack Ruby (Rubenstein) giết chết trong Dallas Police Station.
H-: Như thế thì phải chăng là một nhóm tài phiệt cai trị xứ này vì người ta hay nói: “Ai nắm được tiền là nắm được quyền” phải không?
Đ-: Tôi không dám trả lời là phải hay là không (yes or no) vì tôi không đọc được sách nào nói rõ là đã có một tòa án nào kết án một người nào trong giới Mãnh Lực Tiền Tệ (the Monetary Power) hay một vị nào trong nhóm những Nam Tước Trộm Cắp (the Robber Barons) về tội dùng tiền của mình mua được quyền thế. Cho nên tôi xin để cho quý bạn đọc mỗi người kết luận theo ý kiến của mình.

Tôi chỉ xin phép nhắc lại lời nói của Ông Nathan Rothschild hồi năm 1838: “Để cho tôi phát hành và kiểm soát tiền của một quốc gia, thì tôi cóc cần biết ai viết luật pháp”, và tôi cũng xin phép nhắc lại số phận của những vị Tổng Thống đã có gan dám chặt đầu con hydra tiền tệ: T.T.Andrew Jackson bị mưu sát, T.T.Abraham Lincoln và T.T.John F.Kennedy bị ám sát.


Tài liệu được tham khảo:

The Web of Debt by Ellen Hodgson Brown, nxb Third Millennium, Baton Rouge, 2007
http://www.webofdebt.com
The Secrets of the Federal Reserve by Eustace Mullins nxb Bankers Research Institute Staunton, 1993
Modern Money Mechanics published by the Federal Reserve Bank of Chicago, now out of print: http://landru.i-link-2.net
The Federal Reserve is a privately owned corporation by Thomas D. Schauf. 11-28-98 in http://www.apfn.org/

NLV
source
Calitoday

Thursday, 23 July 2009

Việt Nam 'đứng đầu về gian lận quảng cáo'

Việt Nam 'đứng đầu về gian lận quảng cáo'

Sử dụng chuột và bàn phím

Một phúc trình mới của hãng khảo sát mạng Anchor Intelligence cho biết Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về nạn gian lận click chuột trong quảng cáo (Click Fraud).

Click Fraud là thuật ngữ để chỉ hành động dùng các phần mềm chuyên dụng hay nhân công giá rẻ nhấn liên tục vào một hay các thanh quảng cáo (banner, logo, link…vv..) trên mạng nhằm tạo ra thành công giả tạo của chiến dịch quảng cáo.

Nói cách khác, các cú click chuột đó không tạo giá trị về kinh tế cho nhà quảng cáo mà chỉ phục vụ cho mục đích xấu của người nhấp chuột.

Các công ty dùng dịch vụ quảng cáo mạng thường phải trả tiền quảng cáo theo số lượng các cú click chuột vào quảng cáo của họ, và chuyện gian lận này có nghĩa là họ phải chịu thiệt hại nghiêm trọng.

Theo báo cáo của Anchor Intelligence, công ty có trụ sở tại Mỹ, trong sáu tháng đầu năm 2009, Việt Nam đứng đầu thế giới về nạn Click Fraud, chiếm tới 48.3% trong tổng lượng nhấp chuột.

Tỉ lệ này là cao hơn rất nhiều so với nước bị xếp ở vị trí thứ hai về nạn gian lận click chuột quảng cáo, là Canada với 27.7%.

Hoa Kỳ là nước đứng ở vị trí thứ ba, với mức 25.6%.

10 nước đứng đầu về Click Fraud

Việt Nam: 48.3%

Canada: 27.7%

Hoa Kỳ: 25.6%

Saudi Arabia: 21.2%

Úc: 20.7%

Ai Cập: 18.7%

Ấn Độ: 16.9%

Đức: 16.8%

Malaysia: 16.7%

Anh Quốc: 16.2%

Trong danh sách ‘Top 10’ về gian lận này, còn có Ảrập Saudi, Ai Cập, Ấn Độ, Malaysia, Úc.

‘Đe dọa nghiêm trọng’

Phúc trình của Anchor Intelligence nói nạn gian lận click chuột quảng cáo đang tạo ra đe dọa nghiêm trong cho dịch vụ quảng cáo trên mạng, và là mối lo ngại hàng đầu cho cả người bán lẫn kẻ mua.

Đây là một vấn nạn trong bối cảnh các dịch vụ quảng cáo truyền thống trên báo in và truyền hình đang dần chuyển mạnh sang online.

Phúc trình nhận định nạn Click Fraud trong nửa đầu năm nay không chỉ lan tràn ở những nước vốn có ‘lịch sử’ có các hoạt động gian lận online như Việt Nam, Ai Cập, Ấn Độ, mà còn tăng mạnh tại các nước phát triển như Mỹ và Canada.

Các doanh nghiệp Việt Nam được biết đang hết sức lo ngại về vấn đề này, vì nạn Click Fraud có nghĩa là các báo cáo về số lượng truy cập và người truy cập trên mạng không có ‎ ý nghĩa gì, không tạo ra hiệu quả về kinh tế, trong khi lại làm họ tốn thêm tiền.

Ngoài nạn Click Fraud, tin tức và các diễn đàn mạng cho hay tình trạng gian lận trong thương mại điện tử ở Việt Nam tiếp tục lan tràn.

source

BBC Vietnamese

Tuesday, 21 July 2009

Không chơi với tín dụng “đánh nhanh, rút nhanh”

Ngày 20.07.2009 Giờ 15:07

Ngân hàng ACB:

Không chơi với tín dụng “đánh nhanh, rút nhanh”

Sáu tháng đầu năm, nhiều ngân hàng công bố lợi nhuận cao với tỷ lệ tín dụng chiếm 70 – 80%. Trong khi đó, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng ở ngân hàng ACB chỉ chiếm 32%, còn lại là từ hoạt động dịch vụ, kinh doanh tiền tệ, trái phiếu, vàng... Ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng ACB trao đổi với Sài Gòn Tiếp Thị về nét khác biệt này trong hoạt động của ACB.

Ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng ACB: "“Đánh quả” trong hoạt động ngân hàng không phải là kinh doanh ngân hàng nghiêm túc".

Khi hoạt động tín dụng chiếm tỉ trọng lớn ở nhiều ngân hàng, thì ACB ngược lại. Ông giải thích sự khác biệt này thế nào?

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm 32% tổng lợi nhuận gộp 6 tháng đầu năm của ACB. Tỷ trọng 32% này là của lợi nhuận gộp, nếu trừ đi chi phí phân bổ thì sẽ còn thấp hơn. Có ba lý do khiến tỉ trọng này thấp. Một là cơ cấu tỉ trọng hoạt động tín dụng trong danh mục tài sản của ACB không lớn (là một chính sách dài hạn), đưa đến thu nhập từ tín dụng không lớn. Thứ hai, thận trọng cho vay nghĩa là tìm đối tác có chất lượng, thì phải có mức lãi suất hợp lý. Thứ ba, hoạt động tín dụng chiếm chi phí rất cao, nhất là chi phí nguồn lực và chi phí dự phòng chung. Mỗi khoản vay tăng thêm đều phải trích lập dự phòng 0,75%, tương đương với thu nhập gộp của 4 tháng thu lãi từ hoạt động tín dụng (chênh lệch lãi suất đầu vào – đầu ra trong cho vay chỉ khoảng trên 2%/năm). Càng tăng thêm dư nợ thì càng phải trích lập dự phòng cao. Từ đầu năm đến nay ACB đã trích ra hơn 312 tỉ đồng dự phòng chung. Vì vậy, với lãi suất trần 10,5%/năm, trừ đi chi phí và dự phòng, cứ cho vay tăng thêm đồng nào ngân hàng chịu lỗ đồng đó trong 4 tháng sau đó.

Còn 68% lợi nhuận còn lại, ACB tìm kiếm như thế nào?

Trong phần lợi nhuận còn lại, hoạt động kinh doanh trái phiếu và liên ngân hàng chiếm 22%; dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại hối và kinh doanh vàng chiếm 46% (trong đó thu từ dịch vụ và lợi nhuận kinh doanh ở thị trường nước ngoài chiếm đa số. Kinh doanh ngoại hối trong nước hầu như không có lãi). Kinh doanh tiền tệ trên thị trường liên ngân hàng và kinh doanh trái phiếu vẫn là những nguồn lợi tức vừa đảm bảo cho ACB thanh khoản cao, vừa mang lại lợi nhuận tương đối cho ngân hàng. Năm 2009, ACB sẽ tiếp tục phát huy năng lực kinh doanh tiền tệ ở nước ngoài.

Vậy đâu là thế mạnh của ACB để thực hiện cơ cấu lợi nhuận này, trong khi nhiều ngân hàng vẫn dựa chính vào tín dụng?

Trước tiên, đó là chiến lược cẩn trọng trong tín dụng. Những năm 2005-2007, khi bất động sản, chứng khoán bùng nổ, nếu chúng tôi cho vay bất động sản, chứng khoán theo kiểu “đánh nhanh, rút nhanh” thì kết quả trong năm cao hơn rất nhiều. Nhưng ACB cho rằng “đánh quả” trong hoạt động ngân hàng không phải là kinh doanh ngân hàng nghiêm túc.

Ngược lại, sự thận trọng đó cũng làm ACB bỏ qua một số cơ hội. Nhưng tôi cho rằng, đó là cái giá - mà chúng tôi chưa định lượng được - phải trả cho sự thận trọng trong hoạt động của ACB.

Tuy nhiên, cái mất của ngày hôm trước có thể là cái được của ngày hôm sau. Năm 2008, nhờ tính cẩn trọng và duy trì tỷ trọng hoạt động tín dụng hợp lý, chúng tôi đã không vướng phải nợ xấu và dồi dào thanh khoản nên tận dụng được cơ hội kinh doanh trái phiếu, và có được lợi nhuận không nhỏ từ mảng này.

Nhưng 6 tháng đầu năm nay, thị trường trái phiếu không sôi động, chắc ACB cũng khó tận dụng được ưu thế này? Cũng như các ngân hàng được cho là đều thanh khoản, thì cơ hội nào để kiếm tiền trên thị trường liên ngân hàng?

Thị trường càng có thanh khoản thì càng có cơ hội, càng ít thanh khoản cơ hội càng hiếm hoặc cơ hội là ngắn hạn. Các ngân hàng càng có nhiều tiền thì thị trường liên ngân hàng càng tấp nập. Kinh doanh trong điều kiện thị trường tấp nập khác hoàn toàn với kinh doanh không có người mua hoặc không có người bán.

Lãi từ kinh doanh tiền tệ của 2008 và 2009 khác nhau ở chỗ ấy. Năm 2008 hầu như là kinh doanh một chiều: hoặc bán hoặc mua, và chỉ có một vài ngân hàng thương mại có thể cấp tiền cho thị trường, khi ấy ACB đóng vai trò người bán. Năm nay thị trường thanh khoản cao, nguồn vốn dồi dào hơn và chúng tôi vừa là người mua vừa là người bán. Thu nhập từ trái phiếu của ACB trở nên bình ổn và chiếm 11%, bằng với kinh doanh liên ngân hàng. Kinh doanh tiền tệ hay không chỉ ở chỗ chỉ là người đi bán, mà còn ở chỗ anh là người vừa mua vừa bán và có lãi trong quá trình đó. Cơ hội kinh doanh luôn có, vấn đề là biết tận dụng và tận dụng đến đâu mà thôi.

Lãi suất thỏa thuận ở mảng tín dụng tiêu dùng cá nhân có góp phần nhiều vào lợi nhuận tín dụng chung?

Hiện nay cho vay tiêu dùng cá nhân ở ACB chiếm 12 % dư nợ, nếu kể cả cho vay mua nhà trả góp là khoảng 25%. Chi phí cho một bộ hồ sơ vay tiêu dùng, dù lớn hay bé, theo tính toán của chúng tôi, tối thiểu là 5 triệu đồng. Nếu áp lãi suất trần 10,5%/năm cho người vay tiêu dùng, thì những người vay khoản tiền nhỏ khó đến ngân hàng, vì cho vay là lỗ do chi phí cố định quá cao (nếu khách hàng vay 100 triệu đồng, chi phí cố định đã là 5%). Lãi suất thỏa thuận đã tạo điều kiện cho cả phía ngân hàng và người vay qui mô nhỏ tiếp cận lẫn nhau.

Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu các ngân hàng thương mại tập trung tín dụng vào sản xuất, giảm tín dụng vào tiêu dùng, bất động sản, chứng khoán. Ông nhận định về lợi nhuận và hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng trong 6 tháng tới như thế nào?

Năm 2009 là năm thanh khoản cao, vì vậy quyết định kinh doanh trong 2009 khác hẳn 2008. Gần đây, do xu thế chênh lệch lãi suất sẽ giảm đi, vì ai cũng biết lãi suất huy động đang dần tăng, trong khi lãi suất cho vay không tăng, nên thu nhập từ tín dụng sẽ chỉ tăng cơ học.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng sẽ phải được kiểm soát để đảm bảo tăng trưởng không quá 25%-27% trong năm nay. Theo chúng tôi, vòng quay của đồng vốn đang tăng lên theo đà của các chương trình kích thích tăng trưởng, nhưng nếu tăng trưởng nóng, Ngân hàng Nhà nước sẽ có những điều chỉnh nhất định. Theo chúng tôi, hoạt động của ngân hàng ở quý 3 vẫn tăng trưởng tốt, đến quý 4 thì nhiều ngân hàng sẽ chuẩn bị các chính sách cho một năm mới và có thể có những điều chỉnh nhất định.

Hồng Sương (thực hiện)

source

http://www.sgtt.com.vn/Detail44.aspx?ColumnId=44&newsid=54458&fld=HTMG/2009/0720/54458

Bơi theo hay chết chìm?

Bơi theo hay chết chìm?

Phóng viên BBC Chris Hogg mới tới ngôi làng nhỏ, Trúc San Hạ, cách Thượng Hải chừng 200km, để tìm hiểu cuộc sống nơi đây ra sao dưới chế độ (...), trước tình hình kinh tế suy thoái và đang hồi phục.

Người bán rau tại chợ bán sỉ TQ

Kinh tế TQ đang chia rẽ các cộng đồng làng xã thành hai loại: những người trụ được và những người đang chết chìm về tài chính

Huang Jiao Ling sống ở cuối con đường đất bụi mù.

Trên tường nhà bà cũng như các nhà hàng xóm, các số điện thoại được viết lem nhem khắp nơi.

Thoạt trông, chúng cứ như hình vẽ toán học lăng nhăng trên tường. Tuy nhiên, trên thực tế, đây là các số điện thoại của những người muốn quảng cáo các hàng hóa và dịch vụ mà họ cung cấp.

Trong xã hội Trung Hoa hiện đại, dường như ai cũng có thứ gì để bán.

Bản thân Huang Jiao Ling cũng là một doanh nhân. Bà đã hơn 50 nhưng trông trẻ hơn tuổi.

Ở mảnh vườn trước nhà, nơi các gia đình khác thường trồng rau, bà xây một xưởng nhỏ.

Bên trong, các bức tường còn chưa hoàn tất và nền nhà chỗ lồi chỗ lõm, nhưng đã đủ chỗ cho một chiếc ghế dài cùng vài chiếc máy móc đơn giản.

Kinh tế thị trường

Trên nền nhà là các hộp bìa các-tông với hàng đống những đồ lặt vặt nhỏ bằng kim loại.

Những đồ này rất dễ làm - chồng bà ngồi trên ghế làm ra nhanh nhoay nhoáy.

Cách đó vài bước là chiếc xe đạp chở khách mà ông để ngay bên trong cửa.

Sản xuất đồ lặt vặt bằng máy dễ dàng hơn nhiều so với đạp xe chở khách đi chơi, nhưng ông vẫn giữ lại chiếc xe.

Ông nói chiếc xe này hữu dụng, giúp cung cấp thêm thu nhập vào những lúc khó khăn.

Người bán hoa quả TQ

Rất nhiều người TQ có các gánh hàng nhỏ để bươn chải

Gia đình bà Huang bán các hộp đồ lặt vặt này tới nhà máy, nơi bà Huang Jiao Ling làm việc.

Trong năm nay, có lúc họ phải đóng cửa xưởng nhỏ ở nhà vì nhà máy không có nhu cầu. Tuy nhiên, những chiếc máy nhỏ giờ lại bắt đầu hoạt động trở lại.

Họ có hai người con. Do sống ở nông thôn trong khi con đầu lại là gái nên họ được phép sinh thêm con thứ hai.

Cả hai cô con gái đều được theo học trường tốt, trong khả năng mà bà Huang Jiao Ling có thể trang trải.

Bà bỏ ra hơn một nửa thu nhập để trả học phí cho con.

Bà kể: “Chúng tôi phải nghĩ tới tương lai của các cháu. Đây là truyền thống Trung Quốc. Cha mẹ luôn nghĩ về con, đến khi cha mẹ già, con cái sẽ chăm sóc họ. Đây là truyền thống kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác”.

Yu Feng Guo là em rể bà Huang Jiao Ling. Trong khi bà chị có vẻ làm ăn được trong nền kinh tế thị trường hiện đại của Trung Quốc, ông Guo lại bị bỏ lại đằng sau.

Trước đây, ông làm việc trong một nhà máy gạch quốc doanh.

Lối sống khác

Khi cuộc cải cách kinh tế bắt đầu cách đây 30 năm, ông Yu Feng Guo chỉ đứng nhìn trong khi các đồng nghiệp của ông bỏ việc để bắt đầu kinh doanh riêng, rất nhiều trong số họ khởi sự bằng nghề bán tôm hay cá dọc đường.

Ông Guo quyết định làm điều mà ông cho là đúng, điều mà đảng (...) mong đợi một công nhân trung thành trong nhà máy quốc doanh sẽ làm - là ở lại.

Cuối cùng thì nhà máy cũng bị phá sản và ông mất việc.

Giờ đây, với chiếc áo khoác kaki cũ kỹ, ông làm bảo vệ cho một chợ thực phẩm ngoài trời.

Những người rời nhà máy trước ông và thử vận may trong nền kinh tế thị trường mới bắt đầu khi đó giờ đây giàu hơn ông nhiều. Gia đình ông nhiều khi coi điều này là không công bằng.

Con trai ông nói với tôi: “30 năm trước, tất cả mọi người trong làng đều nghèo.

Cấy lúa

Nông nghiệp là nghề chính cho rất nhiều người ở nông thôn TQ

“Giờ đây, sự khác biệt về lối sống giữa người giàu và người nghèo trong làng là rất lớn”.

Xã hội Trung Quốc hiện đại có một thỏa thuận ngầm giữa giới lãnh đạo và quần chúng.

Bắc Kinh nói với người dân: “Chúng tôi sẽ mang lại cho quí vị các cơ hội”, như kiếm nhiều tiền hơn, có đời sống khá hơn các thế hệ trước.

Nhưng để đổi lại, quí vị phải cư xử biết điều.

Phục hồi kinh tế

Ở làng Trúc San Hạ, giờ đây người ta có thể thấy một số xe hơi đi lại ngang qua những cánh đồng - là điều không hề có cách đây 30 năm.

Khi đã quen với lối sống có nhiều tiện nghi hơn - cho dù đó là xe hơi, nhà to hay trường học đắt tiền cho con cái - người ta sẽ cảm thấy mất mát nhiều hơn khi thời buổi trở nên khó khăn.

Đó là lý do tại sao chính phủ coi một điều hết sức quan trọng là phải vực dậy nền kinh tế.

Khi khủng hoảng kinh tế mới nổ ra, lúc các nhà máy bắt đầu sa thải công nhân, người ta thấy có rủi ro là người dân sẽ cảm thấy chính phủ không làm đủ mạnh để giữ lời hứa, vậy thì tại sao họ lại phải tuân thủ?

Dĩ nhiên là Bắc Kinh giờ đây đã cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi sự phục hồi kinh tế đang diễn ra.

Tuy nhiên, thách thức sắp tới cho chính phủ là phải hành động nhiều hơn để đảm bảo rằng mọi người đều được hưởng thành quả.

Huang Jiao Ling giờ đây vui vẻ vì xưởng làm việc nhà bà bận rộn trở lại, nhưng bà vẫn lo lắng về tương lai.

Như đa phần người dân TQ khác, bà cố gắng tiết kiệm càng nhiều càng tốt.

Thế nhưng em rể bà, Yu Feng Guo, không biết làm cách nào tiết kiệm đủ để đảm bảo có được khoản tiền hưu còm cõi từ công việc không ổn định của mình.

Ông Guo và những người như ông chỉ biết trông đợi các lãnh đạo sẽ trấn an rằng chính phủ sẽ chăm lo cho họ khi về già.

Tuy nhiên, đây là vấn đề hết sức tốn kém và khó giải quyết. Việc xử lý nền kinh tế mới chỉ là công việc dễ dàng ban đầu mà thôi.

-------------------------------------------------------------

SOURCE

BBC Vietnamese

Wednesday, 15 July 2009

Goldman Sachs lãi lớn


Goldman Sachs lãi lớn

Cổ phiếu của Goldman Sachs tăng 75% trong năm nay
Ngân hàng đầu tư Hoa Kỳ Goldman Sachs lãi ròng 3,44 tỷ đôla trong quý hai 2009, vượt mọi dự đoán.
Ngân hàng này cho biết lý do là vì thị trường chứng khoán các nơi đỡ chao đảo, giá cổ phiếu toàn cầu tăng và vì Goldman Sachs tham gia vào nhiều phi vụ mua bán công ty trong thời gian qua.
Goldman nói sẽ dành 6,65 tỷ đôla cho lương thưởng trong quý - trung bình 226,000 đôla/nhân viên. Tuy nhiên các khoản thưởng phải đợi tới cuối năm, khi có kết quả kinh doanh cả 12 tháng.
Mới đây ngân hàng này đã trả xong khoản 10 tỷ đôla tiền vay của chính phủ trong khuôn khổ chương trình cứu trợ ngành tài chính.
Một số người đang đặt ra câu hỏi liệu có đúng đắn không khi một ngân hàng có thể làm ra ngần ấy lãi và hào phóng khen thưởng nhân viên ngay sau khi phải nhận vốn vay của chính phủ.Tuy nhiên cũng có chuyên gia, như ông William Smith từ công ty Smith Asset Management, thì nói: "Cần khen ngợi Goldman chứ không nên chỉ trích họ."
"Tình hình hiện nay hết sức khó khăn nhưng họ đã tìm được cách kiếm tiền trong ṃoi hoàn cảnh. Đó là việc ai nấy đều phấn đấu làm."
Trong khi đó, giám đốc tài chính Goldman, David Viniar, tuyên bố: "Chúng tôi đang giúp nền kinh tế hồi phục".
Thu nhập của Goldman trong quý hai cao hơn ba tháng trước đó tới 47%.Các phân tích gia đã dự đoán rằng khoản lương thưởng dành cho nhân viên hãng này năm 2009 có thể lên tới 18 tỷ - tức hơn 600.000 đôla mỗi người.
Cổ phiếu tăng giá
Sáu tháng trước đây, Goldman báo lỗ từng quý lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu niêm yết năm 1999, cho là vì ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế.
Thế nhưng ngân hàng này lại gây ngạc nhiên cho giới đầu tư Phố Wall khi tuyên bố lãi 1,8 tỷ đôla trong ba tháng đầu năm nay.
Goldman nói đã thu lợi nhờ con số các phi vụ mua bán cổ phiếu, ngoại tệ và các hàng hóa khác.
Một lý do nữa là một số công ty tìm cách tăng đầu tư từ cổ phiếu và thu nhập từ các khoản underwriting, khi ngân hàng thuận mua lại các cổ phiếu không bán được cho nhà đầu tư lấy một khoản phí, tăng 21%.
Vì đặc tính của ngân hàng là không liên quan nhiều tới thị trường tiêu thụ đang èo uột, nó cũng ít bị ảnh hưởng hơn.
Giá cổ phiếu của Goldman, tuy chưa lên tới mức cao như trước, cũng đã tăng 75% trong năm nay.
Goldman đã trả 771 triệu đôla cổ tức cho các nhà đầu tư vào cổ phiếu ưu đãi của ngân hàng.
Cùng kỳ năm ngoái, Goldman lãi 2,1 tỷ đôla.


source

BBC Vietnamese

Friday, 3 July 2009

Một cái nhìn khác về lao động TQ ở VN



Một cái nhìn khác về lao động TQ ở VN

Các nhà thầu TQ thường thích thuê lao động TQ hơn VN
Tờ Quốc tế Tiên Khu Đạo báo (International Herald Leader) trực thuộc Tân Hoa xã mới có bài bình luận nói về “thái độ phức tạp” của Việt Nam liên quan đến việc trục xuất lao động Trung Quốc.
Bài báo mở đầu với lời trích dẫn báo Thanh Niên hôm 25/6 nói rằng Việt Nam sẽ trục xuất 182 người Trung Quốc bị phát hiện lao động trái phép tại một nhà máy xi măng ở tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.
Ông Vương Khánh, giám đốc các dự án quốc tế, trong đó có tập đoàn xây dựng TQ tại Việt Nam, bình luận về tin này: “Các trường hợp như thế này luôn xuất hiện tại Việt Nam”.
Bài báo nhận xét để bảo vệ lao động trong nước, Việt Nam có các quy định chặt chẽ về lao động nước ngoài. Công nhân Trung Quốc không có tay nghề đặc biệt không thể xin được giấy phép lao động.
Một doanh nhân TQ đầu tư tại Hải Phòng nhận xét rằng công ty của ông ta thường xuyên cần các chuyên gia kỹ thuật TQ làm việc ngắn hạn tại Việt Nam. Tuy nhiên, thủ tục xin giấy phép lao động phức tạp thường tốn nhiều thời gian và tiền bạc.
Vị doanh nhân không được nêu tên này nói: “Đôi khi, các hợp đồng chúng tôi k‎ý kết với đối tác Việt Nam là không đúng tiêu chuẩn, và chúng tôi không thể xin được giấy phép lao động theo thủ tục chính thức. Thế nên chúng tôi phải dùng tới các biện pháp khác.”
Trong số các “biện pháp khác” này có chuyện đưa lậu người vào, ở quá thời hạn hoặc dùng thị thực du lịch để vào làm việc.
Bài báo nhận xét chính phủ Việt Nam thiếu khả năng kiểm soát được các hành vi này, và cùng với nạn tham nhũng, số lượng lao động Trung Quốc vào Việt Nam tiếp tục gia tăng.
‘Không chăm chỉ và thiếu hiệu quả’
Họ không chăm chỉ như công nhân Trung Quốc, và hiệu quả lao động lại thấp. Thường chúng tôi cần từ ba đến năm công nhân Việt Nam mới bằng hiệu suất của một công nhân Trung Quốc
Vương Khánh
Được biết một số nhà thầu Trung Quốc chẳng mấy khi thuê công nhân Việt Nam, mà chỉ chọn lao động Trung Quốc.
Vẫn ông Vương Khánh được trích lời nói rằng: “Trên thực tế, chi phí thuê lao động TQ là rất cao, vì chúng tôi thường phải trả lương tháng mỗi người là trên 5000 tệ (732USD) trong khi chúng tôi chỉ trả công nhân Việt Nam 1000 (146USD) đến 2000 tệ/tháng”.
“Rất nhiều người hỏi tại sao chúng tôi không thuê công nhân Việt Nam. Đó là vì họ không chăm chỉ như công nhân Trung Quốc, và hiệu quả lao động của họ lại thấp. Thường chúng tôi cần từ ba đến năm công nhân Việt Nam mới bằng hiệu suất của một công nhân Trung Quốc”.
Bài xã luận trên tờ Quốc tế Tiên Khu Đạo báo này nhận xét lao động Trung Quốc thường có tay nghề cao hơn và dễ quản lý hơn.
Ngay cả khi công nhân Việt Nam có cùng trình độ, họ cũng ngại thuê vì gặp trở ngại về văn hóa, ngôn ngữ, thói quen làm việc và các vấn đề khác.
Bài báo nhận xét khi công nhân TQ tới Việt Nam ngày càng nhiều, số lượng các cuộc xung đột cũng diễn ra nhiều hơn, thường do hiểu nhầm hoặc thiếu liên lạc. Một số xung đột dẫn tới các vụ việc lớn, khiến cảnh sát và truyền thông phải vào cuộc.
Vấn đề
Ông Vương cũng nói cảnh sát đã phát hiện một số trường hợp lao động TQ làm việc bất hợp pháp, và những công nhân này thường bị trục xuất về nước.
Tuy nhiên, theo bài báo, các vụ gây lộn thường không khiến chính phủ Việt Nam phải trả công nhân TQ về nước, mà điều họ thường làm hơn là phạt hành chính. Chỉ những người không có hộ chiếu hay thị thực hợp pháp, hoặc ở lại quá thời gian cho phép, mới bị chính phủ VN trục xuất.
Ông Vương cũng nhận định: “Hành động của chính phủ Việt Nam không có nghĩa là họ phản đối công nhân TQ làm việc tại đây. Họ đơn giản chỉ xử lý tình huống nhằm trách các xung đột và xáo trộn."
Bài báo nhận định truyền thông Việt Nam có xu hướng lảng tránh đưa tin về các vụ việc này.
Trích lời một học giả Hoa kiều, bài báo nhận định vấn đề thực sự là mối quan hệ phức tạp giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Theo ông này, chính phủ Việt Nam hi vọng giữ quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc nhằm phát triển kinh tế, và điều này khiến cho truyền thông VN thường có thái độ “nhẹ nhàng” đối với vấn đề lao động TQ.
Tuy nhiên, bài báo nhận xét cũng có nhiều ý kiến khác nhau và “những tiếng nói không thân thiện” chống lại người Trung Quốc ở Việt Nam.
Mới đây trả lời BBC Việt ngữ, Giám đốc Sở Lao động-Thương binh-Xã hội tỉnh Đồng Nai bác bỏ thông tin nói hơn 180 lao động phổ thông nước ngoài làm việc ở tỉnh này bị "phạt và trục xuất".
Bà Lê Thị Mỹ Phượng, Giám đốc Sở LĐ-TB-XH tỉnh, nói với BBC rằng cơ quan chức năng chỉ phạt hành chính 5 triệu đồng đối với Công ty Xi măng Công Thanh là cơ sở thuê mướn lao động phổ thông nước ngoài bất hợp pháp.

------------------------------------------------------------------

SOURCE

BBC Vietnamese

Giá xăng tăng thêm 700 đồng/lít


Ngày 01.07.2009 Giờ 09:41

Giá xăng tăng thêm 700 đồng/lít
Từ 0g ngày 1.7.2009, giá xăng tăng thêm 700 đồng/lít, dầu diesel tăng 600đ/lít, dầu mazut tăng 500đ và dầu hoả tăng 650 đ/lít, theo quyết định của liên bộ Tài chính - Công Thương chiều tối 30.6.2009.
Cụ thể, xăng không chì A95 là 14.700 đồng/lít, xăng A92 là 14.200 đồng/lít; diesel 0,05S là 12.100 đồng/lít, diesel 0,25S là 12.050 đồng/lít; dầu hoả là 13.650 đồng/lít; dầu madút 3S là 10.600 đồng/kg và madút 3,5S là 10.500 đồng/kg.
Bộ Tài chính cũng có thông tư số 133/2009/TT-BTC ngày 30.6.2009 giảm thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng dầu hỏa từ 35% xuống còn 30%. Mức thuế suất này được áp dụng cho các tờ khai hải quan từ ngày 6.7.2009.Như vậy đây là lần tăng giá xăng dầu thứ 5 từ đầu năm 2009 đến nay. Lý do các công ty kinh doanh xăng dầu đưa ra là do giá dầu thế giới liên tục tăng. Được biết ngày 30.6, giá dầu thế giới giao dịch tại New York ở mức 70USD/thùng, trong khi lần tăng giá xăng dầu trong nước gần nhất (10.6.2009), giá dầu cũng chỉ ở mức 70 USD/thùng (xem biểu đồ dưới)!

P.V

SOURCE
http://sgtt.com.vn/detail41.aspx?ColumnId=41&newsid=53612&fld=HTMG/2009/0701/53612